
“Dịch tai xanh như một cơn lũ quét đối với ngành chăn nuôi, khi nó đã tràn qua vùng nào thì tất cả sẽ bị cuốn trôi”.
Ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi đã đánh giá như vậy về dịch tai xanh trên đàn lợn khi trao đổi với VnEconomy.
Virus gây bệnh có độc lực cao
Thưa ông, dịch bệnh tai xanh lần đầu tiên được phát hiện ở nước ta vào năm nào?
Ở Việt Nam lần đầu tiên phát hiện lợn có huyết thanh dương tính với bệnh tai xanh vào năm 1997, tại một số trại lợn giống phía nam. Tuy nhiên trước tháng 3/2007 chưa có ổ dịch nào được báo cáo.
Ngày 12/3/2007, dịch tai xanh xuất hiện lần đầu tiên trên đàn lợn tại Hải Dương. Do dịch bệnh không được kiểm soát triệt để đã nhanh chóng phát triển mạnh tại 06 tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng gồm Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng và làm hàng ngàn lợn mắc bệnh.
Ngày 25/6/2007, dịch bắt đầu xuất hiện tại Quảng Nam, sau đó lây lan ra các tỉnh Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình Định. Sau đó, dịch tiếp tục được phát hiện tại Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau và Khánh Hòa.
Như vậy trong năm 2007, dịch bệnh tai xanh đã xuất hiện ở 324 xã thuộc 65 huyện của 19 tỉnh thuộc cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tổng số gia súc mắc bệnh là trên 70.000 con, số chết và phải tiêu hủy là trên 20.000 con.
Ngày 28/3/2008, dịch xuất hiện tại nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Cuối tháng 3 dịch đã xuất hiện ở ba tỉnh khác là Thanh Hóa, Quảng Nam và Nghệ An tới nay dịch đã lan tới 10 tỉnh trong cả nước và con số này có thể còn chưa dừng lại.
Trong năm, những tháng nào thường có điều kiện thuận lợi nhất cho dịch tai xanh bùng phát?
Từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, đây là thời điểm thuận lợi nhất cho dịch bệnh này bùng phát. Kết quả phân tích cấu trúc gen virus gây bệnh tai xanh ở Việt Nam do Mỹ và Trung Quốc tiến hành đã khẳng định virus này thuộc chủng Bắc Mỹ có độc lực cao.
Thậm chí, khi lợn được điều trị đã khỏi về các triệu chứng lâm sàng, virus vẫn tiếp tục được bài thải, phát tán ở nhiều địa phương. Nên nguy cơ dịch tai xanh tái bùng nổ ở bất cứ địa phương nào, ở bất cứ thời điểm nào là rất lớn.
Đặc biệt là khi thời tiết thay đổi, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho virus gây bệnh tai xanh và các mầm bệnh khác cùng phát triển.
Sẽ thiếu cả thịt lợn thương phẩm lẫn con giống
Ông đánh giá dịch lợn tai xanh bùng phát lần này sẽ tác động như thế nào đối với ngành chăn nuôi?
Cúm gia cầm tuy có khả năng lây nhiễm trực tiếp sang người, nhưng từ năm 2003 chúng ta đã có kinh nghiệm đối phó và dập dịch.
Trong khi đó, dịch lợn tai xanh có tốc độ lây nhiễm nhanh, nhưng chúng ta hoàn toàn chưa có kinh nghiệm đối phó. Thêm vào đó, gia cầm chỉ đóng góp khoảng 20% đối với tổng GDP ngành chăn nuôi, nhưng chăn nuôi lợn lại chiếm tới 70% GDP của toàn ngành.
Mỗi năm ngành chăn nuôi cung cấp cho thị trường khoảng 2,8 triệu tấn thịt lợn thương phẩm. Nhưng với trên 222.00 con lợn mắc bệnh trên địa bàn 657 xã của 10 tỉnh thành trong cả nước như hiện nay, thì theo ước tính, nếu dịch bệnh dừng lại, sản lượng thịt lợn thương phẩm sẽ giảm khoảng 10%.
Hiện tại vấn đề tiêu hủy lợn đang gây ra ô nhiễm môi trường rất lớn. Trên thực tế những ngoài biện pháp tiêu hủy có thể áp dụng các biện pháp khác để tránh thiệt hại cho người dân?
Tuy dịch tai xanh không trực tiếp lây bệnh đối với người. Nhưng nếu giết mổ để sử dụng thì rất có thể đây sẽ là một cách lưu truyền dịch bệnh.
Đại diện Cục Thú y cũng đã liên hệ với các công ty giết mổ chế biến để giảm thiểu tổn thất cho người dân song họ không đồng tình với phương án này vì e ngại những thực phẩm sạch của họ sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, đây có thể coi là biện pháp để dịch không tiếp tục mở rộng phạm vi lây truyền.
Sắp tới theo ước tính ngành chăn nuôi lợn sẽ thiếu hụt như thế nào về con giống?
Số lượng con giống chắc chắn sẽ thiếu hụt, nhưng cho tới nay chưa thể có những dự đoán vì tình hình bệnh dịch vẫn chưa dừng lại.
Tuy nhiên, công việc hiện nay là phải đặc biệt quan tâm bảo vệ các trang trại giống vì đây là đối tượng có vai trò quyết định trong việc khôi phục lại đàn sau khi hết dịch.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.