TP. Hồ Chí Minh đang có điều kiện để chuyển du lịch từ một ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế đô thị. Không gian phát triển mới, hệ thống sản phẩm đang được mở rộng cùng những chính sách hỗ trợ và cách thức xúc tiến thị trường mới đang tạo nền tảng để thành phố nâng giá trị của ngành du lịch.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh ước đón 7,77 triệu lượt khách quốc tế, tăng 38,5% so với cùng kỳ; khách nội địa đạt khoảng 35,5 triệu lượt. Tổng thu du lịch ước đạt 259.696 tỷ đồng, tăng 48,8% và hoàn thành 78,7% kế hoạch năm.
Mục tiêu cả năm 2026 của thành phố là 61 triệu lượt khách và 330.000 tỷ đồng tổng thu du lịch. Với kết quả sau 8 tháng, doanh thu đã tiến khá gần mục tiêu cả năm, trong khi dư địa tăng trưởng vẫn còn ở những tháng cuối năm.
Nhưng quy mô doanh thu chỉ là một mặt của câu chuyện. Khi đặt mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, yêu cầu quan trọng hơn là làm thế nào để dòng tiền từ du lịch lan tỏa rộng hơn sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Một du khách đến thành phố không chỉ chi cho một tour. Chi phí lưu trú, ăn uống, vận tải, mua sắm, vui chơi, giải trí, tham quan, các chương trình văn hóa và sự kiện đều có thể trở thành một phần của giá trị du lịch. Vì vậy, năng lực tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ trong cùng một hành trình sẽ quyết định mức đóng góp của du lịch vào nền kinh tế.
Định hướng này đang được đặt trong bối cảnh mới khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; đồng thời xác định TP. Hồ Chí Minh là một trong 3 cực tăng trưởng du lịch của cả nước đến năm 2030.
Với vị trí này, bài toán của Thành phố không còn chỉ là tăng số lượng điểm đến. Không gian du lịch sau mở rộng địa giới đã đa dạng hơn, từ đô thị, văn hóa, thương mại đến biển, nghỉ dưỡng, sinh thái và sông nước. Vấn đề là tổ chức những nguồn lực đó thành các sản phẩm có khả năng giữ khách lâu hơn và tạo ra nhiều khoản chi tiêu hơn trong cùng một chuyến đi.
Một bước chuyển đang được TP. Hồ Chí Minh thực hiện là xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển mô hình dịch vụ du lịch, sản phẩm du lịch và hoạt động du lịch. Dự thảo nghị quyết của thành phố đề xuất khung hỗ trợ kết hợp giữa các giải pháp phi tài chính và kinh phí trực tiếp từ ngân sách, trong đó một số mô hình có thể được hỗ trợ tối đa 1 tỷ đồng.
Các nhóm được đưa vào cơ chế hỗ trợ gồm du lịch ban đêm, du lịch đường thủy, chuỗi hoạt động cuối tuần, sản phẩm du lịch mới, sự kiện, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Cách tiếp cận này hướng tới việc tạo thêm sản phẩm để du khách có thêm hoạt động trong thời gian lưu trú, qua đó mở rộng không gian chi tiêu.
Điểm quan trọng là các sản phẩm phải được đặt trong một chuỗi dịch vụ. Du lịch đường thủy, chẳng hạn, không chỉ là một chuyến tàu mà có thể kết nối với điểm tham quan, ẩm thực, mua sắm và các chương trình giải trí. Du lịch ban đêm cũng không chỉ là kéo dài thời gian hoạt động của một điểm đến, mà có thể mở rộng thị trường cho nhà hàng, biểu diễn, mua sắm, vận tải và các dịch vụ liên quan.
Hoạt động xúc tiến quốc tế cũng đang chuyển theo hướng tổ chức thị trường thay vì chỉ quảng bá hình ảnh. Tại Hội chợ Du lịch Quốc tế TP. Hồ Chí Minh lần thứ 20 (ITE HCMC 2026), hơn 500 đơn vị tham gia cùng hàng trăm người mua quốc tế; nền tảng kết nối giao thương được thiết kế để tạo ra hàng chục ngàn cuộc hẹn B2B giữa doanh nghiệp với các đối tác theo từng thị trường và nhu cầu sản phẩm.
Như vậy, xúc tiến du lịch được đặt gần hơn với hoạt động kinh doanh. Đó là tìm đúng thị trường, gặp đúng đối tác và đưa sản phẩm phù hợp đến đúng nhóm khách.
Định hướng nâng năng lực cạnh tranh cũng thể hiện trong việc TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy hợp tác với Hiệp hội Du lịch châu Á - Thái Bình Dương, tập trung vào nghiên cứu, phân tích thị trường, định vị điểm đến, quản trị điểm đến, marketing số, đào tạo và phát triển MICE, Green MICE.
Những động thái này cùng hướng tới một yêu cầu là du lịch phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một dòng khách. Theo đó, một điểm đến được kết nối với lưu trú, vận tải, ẩm thực, mua sắm, vui chơi, sự kiện và các dịch vụ đô thị. Một hoạt động xúc tiến được chuyển thành những giao dịch cụ thể giữa doanh nghiệp với thị trường. Một sản phẩm được thiết kế theo nhu cầu của từng nhóm khách... Từ đó, doanh thu du lịch sẽ không chỉ nằm ở riêng ngành lữ hành.
Đó là cơ sở để TP. Hồ Chí Minh từng bước đưa du lịch từ một ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao trở thành một ngành kinh tế có khả năng tạo giá trị và sức lan tỏa lớn hơn trong toàn bộ nền kinh tế thành phố.
Khi ngày càng nhiều du khách sẵn sàng chi nhiều tiền hơn để có thể đưa thú cưng đồng hành cùng mình trong các chuyến đi, một mảng thị trường vốn ít được chú ý trong ngành du lịch đang bắt đầu thu hút sự quan tâm từ công nghệ, dịch vụ cao cấp và các quỹ đầu tư mạo hiểm...
Vừa qua, 111 thí sinh Miss World 2026 đã đến Khánh Hòa tham gia các hoạt động văn hóa, du lịch, trải nghiệm và giao lưu. Qua đó, các thí sinh khám phá điểm đến, di sản, làng nghề, văn hóa truyền thống và cảnh quan biển đảo…
Mức giá trung bình hàng ngày (ADR) của phân khúc khách sạn cao cấp tăng 13,4% giữa bối cảnh kinh tế vĩ mô nhiều biến động. Đây không chỉ là con số tăng trưởng đơn thuần mà cho thấy một bước chuyển mang tính cấu trúc của thị trường du lịch Việt Nam…
Tính chung 8 tháng đầu năm, Việt Nam đã đón gần 16 triệu lượt khách quốc tế, hoàn thành gần 64% kế hoạch năm 2026. Trong đó, Trung Quốc và Hàn đón tổng cộng khoảng 6,3 triệu lượt khách, tương đương 40% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam...
Marathon đang dần vượt ra khỏi khuôn khổ của một cuộc thi thể thao. Tại nhiều điểm đến, những giải chạy lớn trở thành một phần của “kinh tế sự kiện”, góp phần thu hút du khách và tạo thêm động lực cho các lĩnh vực lưu trú, ẩm thực, vận tải, du lịch…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.