Hiệu suất bình quân năm 2025 ở nhóm quỹ cổ phiếu tiếp tục ở mức cao dù kém xa VN-Index và tương đương mức trung bình trong trung và dài hạn. Trong khi đó, quỹ trái phiếu duy trì hiệu suất ổn định tiệm cận lãi suất tiết kiệm.
Theo thống kê của FiinTrade, nhóm quỹ cổ phiếu ghi nhận mức sinh lời bình quân +18,2% trong năm 2025, tương đương mức trung bình hàng năm trong khung 3 năm và cao hơn rõ rệt so với trung bình 5 năm, cho thấy hiệu suất năm 2025 nằm ở vùng tương đối thuận lợi xét trong trung hạn.
Tuy nhiên, mức sinh lời này vẫn kém xa VN-Index (+40,9%), do đà tăng của thị trường tập trung ở một số cổ phiếu vốn hóa lớn mang tính dẫn dắt (họ Vin và Gelex), trong khi nhiều quỹ mở không nắm giữ hoặc chỉ phân bổ ở mức hạn chế các cổ phiếu này.
Năm 2025, VN-Index tăng mạnh (+40,9%) và vượt trội so với năm 2024 (+12,1%), song đà tăng chủ yếu tập trung vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn mang tính dẫn dắt, khiến mức độ lan tỏa trên thị trường còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, số lượng quỹ có hiệu suất vượt VN-Index và VN30 ở mức hạn chế (10/77 quỹ), và chỉ 40/77 quỹ ghi nhận hiệu suất cải thiện so với năm 2024.
Các quỹ ETF ngoại quy mô lớn và ETF tham chiếu theo VN30 có hiệu suất vượt trội, nhờ danh mục có tỷ trọng cao ở nhóm cổ phiếu dẫn dắt như VIC, VHM, SHB và VJC. Bên cạnh yếu tố danh mục, diễn biến thuận lợi của tỷ giá EUR/VND và USD/VND cũng đóng vai trò hỗ trợ bổ sung đối với hiệu suất của các quỹ ETF ngoại.
Ngược lại, nhóm quỹ mở và các ETF tham chiếu VNDiamond đạt mức tăng thấp hơn do ảnh hưởng từ diễn biến kém tích cực của FPT, PNJ và ACB.
Trên khung thời gian trung và dài hạn, nhóm quỹ mở cổ phiếu ghi nhận mức lợi nhuận kép bình quân hàng năm trong khung thời gian 3 năm (dao động trong khoảng 20 – 28%) và 5 năm (quanh 10 – 17%) cao hơn đáng kể so với nhóm quỹ đóng. Điều này phản ánh lợi thế từ khả năng tái cơ cấu danh mục linh hoạt của nhóm quỹ mở trong bối cảnh thị trường biến động mạnh ở một số giai đoạn 2021-2025. Trong khi đó, quỹ đóng chịu ảnh hưởng bởi hạn chế về thanh khoản và điều chỉnh danh mục, khiến mức sinh lời dài hạn thấp hơn so với quỹ mở.
Nhóm quỹ Trái phiếu duy trì hiệu suất ổn định ở mức +5,4%, thấp hơn so với trung bình 3 năm và 5 năm và gần như tương đương với lãi suất tiết kiệm cho kỳ hạn 12 tháng ở thời điểm hiện tại.
Có 14/25 quỹ Trái phiếu có mức tăng trưởng thấp hơn so với năm 2024, đáng chú ý là quỹ Trái phiếu Techcom (TCBF) với mức sinh lời chỉ đạt +4,6% trong năm 2025, kém xa so với hiệu suất +14,5% của năm 2024, chủ yếu do ghi nhận khoản lỗ chưa thực hiện 237 tỷ đồng, đồng thời chịu áp lực rút ròng lớn (hơn 4 nghìn tỷ đồng).
Ngược lại, phần lớn các quỹ trái phiếu quy mô lớn như ABBF, VFF, DCIP và DCBF duy trì hiệu suất tương đối ổn định, song dòng tiền nhìn chung ở trạng thái rút ròng hoặc vào ròng nhẹ.
Dù mức sinh lời bình quân của các quỹ Trái phiếu trong năm 2025 ở mức +5,4% và tiệm cận với mức lãi suất tiết kiệm, song lợi nhuận kép bình quân hàng năm trong 3 năm và 5 năm của phần lớn các quỹ Trái phiếu duy trì ở mức 7 – 10%, cao hơn đáng kể so với lãi suất tiết kiệm (5,3%). Mức chênh lệch này cho thấy lợi thế của quỹ Trái phiếu khi nhìn trên khung thời gian dài hơn, do các quỹ đã tận dụng tốt giai đoạn lợi suất cao và điều kiện tái đầu tư thuận lợi trong các năm 2022–2023.
Nhóm quỹ Cân bằng đạt hiệu suất +11,0% năm 2025, tương đối đồng đều qua các năm, phản ánh hiệu quả của chiến lược phân bổ tài sản linh hoạt trong bối cảnh thị trường biến động và phân hóa mạnh.
Trong năm 2025, chênh lệch hiệu suất giữa các quỹ không quá lớn giữa các quỹ Cân bằng, với phần lớn các quỹ đạt mức sinh lời quanh 11%.
So với năm 2024, hiệu suất năm 2025 kém đi ở 8/11 quỹ Cân bằng, tập trung chủ yếu ở các quỹ có quy mô NAV >100 tỷ đồng. Đáng chú ý là quỹ Cân bằng Tuệ Sáng VinaCapital (VIBF) với hiệu suất đạt +10,8%, kém xa mức +17,9% của năm 2024 do nắm giữ tỷ trọng cao các cổ phiếu có mức tăng trưởng thấp (PNJ, HPG). Dù vậy, quỹ vẫn hút ròng hơn 485 tỷ đồng trong năm 2025, dẫn đầu nhóm quỹ Cân bằng.
Ở chiều ngược lại, quỹ Cân bằng Linh hoạt Techcom (TCFF) cải thiện hiệu suất lên +5,7%, cao hơn so với +3,3% năm 2024, nhờ gia tăng tỷ trọng tiền mặt trong bối cảnh lãi suất tiền gửi tăng vào cuối năm 2025.




Phiên giao dịch cuối cùng của tháng 7 có yếu tố cơ cấu danh mục quỹ, phần nào khiến sức ép từ bên bán mạnh lên. Tuy nhiên độ rộng cho thấy đà giảm áp đảo cả ngoài danh mục tái cơ cấu, xác nhận hiện tượng chốt lời ngắn hạn xuất hiện sau 3 phiên tăng mạnh trước đó.
Xác suất thị trường tăng trong tháng 8 đạt khoảng 80%. Trong 6 năm gần nhất, thị trường đều tăng điểm trong tháng 8, với mức tăng bình quân cũng là cao nhất trong năm, đạt 3,9%.
Mối lo về khả năng sinh lời từ các khoản đầu tư khổng lồ vào AI đã gây ra làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ trên toàn cầu trong tháng này...
Đây có thể là dấu hiệu cho thấy một trong những động lực tăng trưởng lớn nhất của nhu cầu vàng đang dần suy yếu...
Đồng yên Nhật Bản đã có một cú tăng giá mạnh mẽ vào thứ Năm (30/7), đạt mức tăng lớn nhất so với đồng USD trong một phiên giao dịch trong vòng gần 4 năm...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.