Dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện 8) đã đặt ra mục tiêu sẽ phát triển khoảng 16.121 MW điện gió trên bờ và gần bờ cùng khoảng 7.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030. Đến năm 2045, công suất đặt điện gió ngoài khơi dự kiến đạt khoảng 64.500 MW.
Tại hội thảo “Thúc đẩy phát triển ngành điện gió ngoài khơi của Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và các gợi ý chính sách”, do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam tổ chức mới đây, TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, cho biết Nghị quyết số 55-NQ/TW, ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về “Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã đề ra nhiệm vụ xây dựng các chính sách hỗ trợ và cơ chế đột phá cho phát triển điện gió ngoài khơi gắn với triển khai thực hiện Chiến lược biển Việt Nam.
Ngày 17/11/2022 Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, xác định cần có lộ trình phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với điều kiện trình độ phát triển của đất nước trên cơ sở đánh giá tổng thể về lợi ích và chi phí của nền kinh tế, đồng thời xác định ngành công nghiệp năng lượng là 1 trong 6 ngành công nghiệp nền tảng cần được ưu tiên phát triển nhất là phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới.
Như vậy, phát triển điện gió ngoài khơi được Việt Nam xác định là lĩnh vực phát triển đột phá trong chuyển dịch năng lượng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
“Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng và cơ hội để phát triển năng lượng gió, hơn 39% lãnh thổ của Việt Nam có tốc độ gió lớn hơn 6 m/s tại độ cao 65 m. Đặc biệt, khoảng 8% diện tích lãnh thổ, tương đương 112 GW được đánh giá là có tiềm năng năng lượng gió tốt. Bên cạnh đó, cùng với năng lực và kinh nghiệm xây dựng các công trình ngoài khơi, các công trình biển và hệ thống logistics phụ trợ của ngành dầu khí hiện nay, Việt Nam có thể phát huy tốt nội lực để phát triển ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi gắn với chuỗi giá trị công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics trong những năm tới”, TS. Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh.
Chia sẻ thêm, ông Nicolai Prytz - Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam cho rằng điện gió ngoài khơi là cơ hội kép tuyệt vời cho Việt Nam: Một cơ hội để cung cấp một nguồn năng lượng xanh và có chi phí hiệu quả cho sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước, đồng thời hỗ trợ Việt Nam đạt được cam kết tại Hội nghị COP26 đối với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Khẳng định tiềm năng nhu cầu phát triển điện gió, trong đó có điện gió ngoài khơi tại các vùng biển của Việt Nam là rất lớn, TS. Tạ Đình Thi - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho biết để thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng hành cùng Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã và đang triển khai nhiều hoạt động trong công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Về công tác lập pháp, trong nhiệm kỳ đã, đang và sẽ đánh giá, rà soát, xem xét việc sửa đổi các luật liên quan đến lĩnh vực năng lượng như: Luật Điện lực, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các Luật liên quan như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Đấu thầu (sửa đổi).
Mặc dù phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam có những cơ hội lớn, nhưng cũng đang đối diện với những thách thức lớn, theo TS. Nguyễn Đức Hiển, đó là tính chất phức tạp về kỹ thuật và công nghệ; nguồn vốn lớn và dài hạn.
Đồng thời, nhiều vấn đề lớn đặt ra cần phải làm rõ như về quy hoạch, cơ chế, chính sách đầu tư xây dựng, quy định cho thuê, cấp phép, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định vận hành, cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện và các quy định về vận hành hệ thống điện, hệ thống cảng biển, phát triển chuỗi cung ứng.
TS. Nguyễn Đức Hiển cũng thẳng thắn nhìn nhận, Nghị quyết 55 đã được triển khai 3 năm nhưng tiến trình thể chế hóa, cụ thể hóa yêu cầu xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ và đột phá cho phát triển điện gió ngoài khơi nêu tại Nghị quyết được các cấp có thẩm quyền triển khai còn chậm, kết quả còn hạn chế.
Ví dụ như Quy hoạch điện 8 và Quy hoạch không gian biển vẫn đang trong quá trình xây dựng và chưa được chính thức ban hành. Việc giao vùng biển để khảo sát phát triển điện gió ngoài khơi vẫn chưa được quy định cụ thể. Các lộ trình về xây dựng và các cơ chế chính sách giá cho điện gió ngoài khơi của Việt Nam vẫn đang được triển khai xây dựng và thực tiễn vẫn còn khá chậm.
Ủng hộ mạnh mẽ và lâu dài việc Việt Nam chuyển đổi sang ngành năng lượng xanh và bền vững, Đại sứ Nicolai Prytz mong đợi Chính phủ Việt Nam sớm ban hành khung pháp lý rõ ràng và nhất quán, điều cần thiết cho sự phát triển của ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi, bắt đầu bằng việc phê duyệt Quy hoạch Điện 8 và quyền khảo sát ngoài khơi độc quyền.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12-2023 phát hành ngày 20-03-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Tháng 6/2026, TKV khai thác 3,3 triệu tấn than nguyên khai, nâng sản lượng 6 tháng lên 19,6 triệu tấn. Tuy nhiên, sang tháng 7, Tập đoàn chủ động giảm sản lượng khai thác và tiêu thụ do nhu cầu than cho điện thấp hơn khi bước vào mùa mưa...
Sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và các đơn vị logistics Hoa Kỳ, Brazil cùng các đối tác thương mại ở khu vực châu Mỹ tại VIS 2026 cho thấy sự quan tâm rất lớn đối với hàng hóa Việt Nam. Điều này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của Việt Nam như một trung tâm cung ứng quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66% vào tổng GDP của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp cũng đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết để duy trì đà phát triển bền vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế... GDP sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta vẫn tăng tới 8,18%. Khu vực 2 là động lực chính cho GDP đạt con số trên.