Theo thống kê, ngành năng lượng chiếm tới 65% tổng phát thải khí nhà kính của Việt Nam, trong khi riêng công nghiệp đã tiêu thụ hơn một nửa tổng năng lượng quốc gia. Các ngành xuất khẩu chủ lực của quốc gia như dệt may và gỗ cũng đóng góp đáng kể vào lượng phát thải công nghiệp, do các quy trình nhiệt vẫn phụ thuộc nặng nề vào nhiên liệu hóa thạch.
Các số liệu đưa ra trong nghiên cứu mới đây do WWF, Tập đoàn H&M và IKEA thực hiện nhấn mạnh rằng các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giày, chế biến gỗ và chế biến thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ đóng góp quan trọng vào tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam, các ngành dệt may, da giày, gỗ và các sản phẩm gỗ còn tạo việc làm cho khoảng 5- 6 triệu lao động (10- 12% lực lượng lao động cả nước).
Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp hiện đang tiêu thụ khoảng 47% tổng năng lượng của Việt Nam và chiếm khoảng một phần ba tổng lượng phát thải quốc gia. Nhiều cơ sở sản xuất hiện vẫn phụ thuộc vào lò hơi đốt than đá, sinh khối và nhiên liệu hóa thạch để tạo nhiệt phục vụ sản xuất.
Trong khi đó, các thương hiệu quốc tế lớn tại châu Âu và Hoa Kỳ đang mua hàng từ các nhà cung cấp Việt Nam ngày càng đưa ra các yêu cầu về kiểm kê phát thải carbon và minh bạch chuỗi cung ứng. Những yêu cầu này đặt ra thách thức đối với năng lực cạnh tranh của các cơ sở sản xuất trên thị trường toàn cầu, đồng thời cho thấy cần có các chính sách hỗ trợ có mục tiêu.
Việt Nam đã công bố cam kết mạnh mẽ về khí hậu với tuyên bố tại COP26 về đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam đặt mục tiêu giảm 15,8% lượng phát thải vô điều kiện và có thể đạt tới 43,5% với sự hỗ trợ quốc tế vào năm 2030. Để thực hiện các cam kết này, cần có những nỗ lực cắt giảm phát thải đáng kể trong toàn ngành công nghiệp.
Có thể thấy, ở cấp quốc gia, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 và đang từng bước tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo. Ở cấp thị trường, các nhãn hàng quốc tế ngày càng yêu cầu minh bạch về phát thải và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Hai áp lực này đang hội tụ tại nhà máy, nơi các quyết định về công nghệ và năng lượng trở thành yếu tố chiến lược.
Trong bối cảnh đó, điện hóa trong công nghiệp đang được đánh giá là giải pháp then chốt giúp doanh nghiệp giảm phát thải và tiến tới mục tiêu trung hòa carbon (NetZero). Việc thay thế các hệ thống tạo nhiệt sử dụng nhiên liệu đốt truyền thống bằng các công nghệ sử dụng điện như bơm nhiệt và nồi hơi điện mở ra khả năng cắt giảm phát thải ngay tại “điểm nóng” của quá trình sản xuất.
Bà Phạm Thị Cẩm Nhung, Quản lý chương trình Khí hậu và Năng lượng, WWF-Việt Nam chia sẻ theo nghiên cứu mới nhất của WWF, với các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và chế biến gỗ, điện hóa có thể giúp giảm đáng kể phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng. Mức giảm có thể lên tới 80% phát thải khí nhà kính và tiết kiệm 30- 50% năng lượng trong các kịch bản kết hợp với năng lượng tái tạo, khi sử dụng điện từ lưới điện Việt Nam.
“Khi đặt trong bối cảnh quy mô sản xuất lớn, đây không còn là những cải tiến cục bộ, mà là một cơ hội giảm phát thải ở quy mô hệ thống,” bà Nhung khẳng định.
Theo nghiên cứu của WWF, các công đoạn “xử lý ướt” trong nhà máy, bao gồm sấy, nhuộm, định hình và giặt, chiếm tới 75% tổng lượng phát thải trong ngành dệt may. Tổng lượng phát thải có thể giảm từ 40- 60% vào năm 2030 thông qua việc triển khai các công nghệ điện hóa như bơm nhiệt và nồi hơi điện.
Bên cạnh việc cắt giảm phát thải khí nhà kính, việc thay thế các lò hơi bằng công nghệ điện khí hóa còn giúp giảm ô nhiễm không khí tại cơ sở, với mức cắt giảm lên tới 90- 100% lượng phát thải PM2.5 và NOx so với lò hơi truyền thống sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đồng thời cải thiện an toàn lao động nhờ loại bỏ nhu cầu vận chuyển nhiên liệu.
Các chuyên gia cho rằng những lợi ích này phù hợp chặt chẽ với các chính sách chuyển dịch năng lượng tổng thể của Việt Nam, bao gồm Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, Quy hoạch điện VIII (PDP8), Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) và quá trình phát triển thị trường carbon quốc gia.
Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu, hạn chế về hạ tầng điện và các rào cản về kiến thức, kỹ thuật cũng như chính sách hỗ trợ vẫn là những nút thắt lớn trong chuyển đổi điện hóa. Hiệu quả kinh tế của giải pháp cũng phụ thuộc vào giá điện và khả năng tiếp cận nguồn điện sạch, khiến nhiều doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ trước khi triển khai.
Thực tế các mô hình thí điểm cho thấy điện hóa trong công nghiệp tại Việt Nam là hoàn toàn khả thi và đã bắt đầu có kết quả tích cực. Minh chứng điều này, WWF ví dụ, nhà máy Bangjie đang thử nghiệm lắp đặt hệ thống bơm nhiệt tạo hơi thay thế than và sinh khối đầu tiên tại Việt Nam, trong khi hệ thống điện mặt trời mái nhà của Sợi Thế Kỷ bước đầu đáp ứng khoảng 6% nhu cầu điện.
Trong ngành gỗ, một số doanh nghiệp như Công ty CP Thắng Nam đã đạt mức tiết kiệm điện 17% và tăng hiệu quả năng lượng nhiệt 40- 60% nhờ ứng dụng công nghệ mới.
Những kết quả này tương đồng với các thí điểm quốc tế, cho thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể bắt kịp xu hướng sản xuất ít phát thải và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng xanh, dù chính sách hỗ trợ điện hóa vẫn đang ở giai đoạn đầu.




Đánh giá Việt Nam đã có năng lực trong nhiều lĩnh vực ứng dụng công nghệ hạt nhân, IAEA cho biết sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong đào tạo nhân lực và phát triển điện hạt nhân an toàn, hiệu quả…
Sự bùng nổ của thị trường xe điện đang giúp châu Âu tiến gần hơn mục tiêu giảm phát thải carbon, nhưng đồng thời cũng mở ra một thách thức mới. Chỉ trong hơn một thập kỷ tới, hàng triệu bộ pin xe điện sẽ đồng loạt hết vòng đời sử dụng, tạo ra một dòng chất thải có tốc độ tăng nhanh nhất thế giới. Điều đó buộc châu Âu phải đẩy nhanh đầu tư vào công nghệ tái chế, phát triển kinh tế tuần hoàn và đảm bảo nguồn cung các khoáng sản chiến lược cho ngành công nghiệp xe điện…
Sau khi hợp nhất với Bình Thuận, Lâm Đồng hình thành không gian phát triển trải dài từ cao nguyên xuống duyên hải Nam Trung Bộ. Trên nền tảng đó, địa phương đang định hình mô hình phát triển kinh tế xanh theo cấu trúc “cao nguyên - trung du - duyên hải”...
Việc xây dựng dự án Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo (sửa đổi) nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên, không gian biển; thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo; phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp và các ngành kinh tế biển mới…
Việt Nam đang đẩy nhanh đàm phán Thỏa thuận mua bán giảm phát thải (ERPA) với Emergent, hướng tới ký kết tại COP31 và mở ra nguồn tài chính mới cho bảo vệ rừng, phát triển thị trường carbon rừng...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Lương cơ sở chính thức tăng hơn một tháng, kéo theo áp lực giá cả tăng theo. Trong bối cảnh đó, Chính phủ triển khai hàng loạt các chính sách giãn, hoãn, miễn giảm thuế phí nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.