Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện nay trên toàn thế giới có 113 công cụ định giá carbon, với 37 hệ thống ETS đang hoạt động; bao phủ 28% tổng lượng phát thải toàn cầu.
Nguyên lý hoạt động của ETS là đặt ra một giới hạn tổng thể cho lượng phát thải. Trong giới hạn này, các giấy phép phát thải (hạn ngạch) được phân bổ hoặc bán cho các tổ chức. Mỗi hạn ngạch cho phép thải một tấn CO2 tương đương và có thể mua bán, tạo động lực kinh tế để giảm phát thải.
Việc đặt ra tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính và phân bổ hạn ngạch cho các doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp giảm phát thải khí nhà kính và chuyển đổi công nghệ xanh.
Từ thực tế các thị trường hiện nay đang có nhiều phương pháp phân bổ hạn ngạch khác nhau, bao gồm phân bổ miễn phí hoặc đấu giá. Trong giai đoạn đầu, các quốc gia thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các doanh nghiệp trong giai đoạn từ 4-5 năm.
Điều này nhằm đánh giá đầy đủ tác động tới doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp làm quen với cơ chế hoạt động, quy trình thu thập số liệu, giám sát, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải và các hoạt động vận hành của Hệ thống ETS cũng như hoàn thiện các quy định pháp luật.
ETS là một công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris. Giới hạn phát thải của ETS được thiết lập và giảm dần theo thời gian để phù hợp với mục tiêu khí hậu quốc gia. Hiện nay, nhiều quốc gia đã áp dụng thành công ETS.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện nay trên toàn thế giới có 113 công cụ định giá carbon, với 37 hệ thống ETS đang hoạt động; bao phủ 28% tổng lượng phát thải toàn cầu.
Điển hình như hệ thống ETS của Châu Âu thí điểm trong 3 năm từ 2005-2007 nhằm thử nghiệm phương pháp đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), thiết lập giá cho hạn ngạch và để doanh nghiệp làm quen với hệ thống.
Trong khi đó K-ETS của Hàn Quốc được triển khai thí điểm thông qua Hệ thống quản lý mục tiêu giảm phát thải khí Nhà kính và sử dụng năng lượng từ năm 2012-2015 nhằm hoàn thiện các quy định về kiểm kê khí nhà kính, MRV.
Còn hệ thống ETS của California được thí điểm từ năm 2008-2013 nhằm thiết kế hệ thống, xây dựng quy định và đảm bảo các cơ sở thực hiện nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính và MRV để xây dựng cơ sở dữ liệu trước khi hệ thống giao dịch chính thức bắt đầu.
Đối với Trung Quốc, hệ thống ETS triển khai các chương trình thí điểm ở cấp tỉnh (Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Thâm Quyến, Trùng Khánh, Hồ Bắc và Quảng Đông) từ năm 2013 và chính thức triển khai năm 2021 nhằm hoàn thiện quy định, chính sách vận hành, xây dựng hệ thống MRV và tích lũy kinh nghiệm cho doanh nghiệp trong triển khai ETS.
Trong giai đoạn thí điểm, các hệ thống ETS trên thế giới phân bổ hạn ngạch phát thải miễn phí để giảm rủi ro kinh tế cho doanh nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống và thường có tình trạng dư thừa hạn ngạch nhằm đảm bảo việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Sau giai đoạn thí điểm, các hệ thống chuyển dần sang hình thức đấu giá hạn ngạch phát thải để tạo động lực giảm phát thải mạnh mẽ hơn. Thông qua đó kiểm soát phần lớn lượng phát thải quốc gia, từ 40-85%, tập trung vào các lĩnh vực như sản xuất điện và công nghiệp nặng, đồng thời mở rộng sang các ngành khác như giao thông và vận tải biển…
Đáng chú ý, để đối phó với tình trạng “rò rỉ carbon” (tình trạng vốn đầu tư dịch chuyển ra các khu vực chưa áp dụng cơ chế định giá carbon), Liên minh Châu Âu (EU) đã thông qua Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM) nhằm thu một khoản chênh lệch giá carbon đối với 5 mặt hàng (gồm sắt, thép, phân bón, nhôm và xi măng) nhập khẩu vào thị trường EU.
Theo đó, trong giai đoạn từ 01/10/2023 đến năm 2026, các đơn vị nhập khẩu tại EU có nghĩa vụ phải báo cáo hàng quý về lượng phát thải khí nhà kính của các sản phẩm nhập khẩu vào EU thuộc phạm vi của CBAM.
Bắt đầu từ năm 2026, cơ chế CBAM chính thức vận hành và bắt đầu thu tiền đối với chênh lệch giá carbon. Đồng thời, một số quốc gia trên thế giới cũng đang nghiên cứu và dự kiến áp dụng các biện pháp tương tự.
Tại Việt Nam, ngày 9/2/2026, Chính phủ đã phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025-2026, để phân bổ cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép, 51 cơ sở sản xuất xi măng.
Theo quyết định này, tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 là 243.082.392 tấn CO2tđ và năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2tđ.
Tiếp đó, ngày 27/02/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT, đánh dấu việc bắt đầu thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho hai năm 2025 và 2026.
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính là giới hạn tối đa về lượng khí nhà kính mà một quốc gia, ngành công nghiệp hoặc doanh nghiệp được phép thải ra trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Để các cơ sở, doanh nghiệp làm quen thị trường, trong giai đoạn đầu thí điểm, hạn ngạch sẽ được phân bổ miễn phí.
Việc phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025-2026 và thí điểm phân bổ hạn ngạch cho các nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, cơ sở sản xuất xi măng là rất cần thiết, phù hợp với xu thế thế giới và yêu cầu triển khai vận hành thị trường carbon trong nước, góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính.
Không những thế, việc thực hiện hạn ngạch phát thải khí nhà kính sẽ giúp các doanh nghiệp tránh chi phí mua chứng chỉ CBAM và hạn chế các tác động, rủi ro kinh tế khi xuất khẩu sang thị trường EU và các thị trường khác dự kiến sẽ áp dụng các cơ chế tương tự.
Những yêu cầu mới về chống mất rừng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin trong chuỗi cung ứng tại Vương quốc Anh không chỉ tác động đến doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn liên quan trực tiếp đến người sản xuất, vùng nguyên liệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc và khả năng cung cấp thông tin của toàn bộ chuỗi cung ứng tại Việt Nam...
Giai đoạn 2 của Dự án Trung tâm Chuyển đổi kép sẽ chuyển trọng tâm từ xây dựng công cụ, nền tảng sang đồng hành trực tiếp với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong triển khai chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào thực tế vận hành…
Dù được xem là một giải pháp hỗ trợ giảm phát thải trong một số ngành công nghiệp, nhưng công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) vẫn bị chỉ trích vì chi phí cao, chưa chắc chắn về kỹ thuật và có nguy cơ làm chậm quá trình cắt giảm phát thải tại nguồn…
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, Pháp đang chuyển trọng tâm từ phát triển công nghệ đơn lẻ sang xây dựng năng lực công nghiệp và hệ sinh thái hoàn chỉnh, từ hydrogen carbon thấp, điện hạt nhân thế hệ mới đến sản xuất thiết bị năng lượng sạch. Đây cũng là kinh nghiệm đáng chú ý đối với Việt Nam trong quá trình tìm kiếm công nghệ, vốn và mô hình hợp tác cho tăng trưởng xanh…
Rosatom nhìn thấy những cơ hội hợp tác rộng hơn tại Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ sản xuất bồi đắp kim loại. "Chúng tôi sẵn sàng xem xét khả năng nội địa hóa việc lắp ráp máy in 3D tại Việt Nam để phục vụ thị trường Đông Nam Á trong tương lai"...
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp, cũng là cơ hội để kết nối những lĩnh vực thế mạnh của Pháp về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ chiến lược với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam.