
Thương hiệu của chiếc điện thoại di động mà bạn đang sử dụng có mức độ “phủ sóng” thế nào tại thị trường Việt Nam?
Câu trả lời phần nào được hé lộ thông qua kết quả cuộc thăm dò “Điện thoại di động mà bạn đang sử dụng thuộc thương hiệu nào?” của VnEconomy, được thực hiện với sự tham gia của trên 13.000 bạn đọc trong hơn một tháng qua.
VnEconomy đã đưa ra 15 lựa chọn thương hiệu (HP, Lenovo, LG, Mobiado, Motorola, Nokia, O2, PalmOne, Panasonic, Philips, Samsung, Sharp, BenQ - Siemens, Sony - Ericsson và Vertu), trong tổng số hơn 20 thương hiệu điện thoại di động đang có mặt trên thị trường Việt Nam, để độc giả lựa chọn. Mỗi máy tính của bạn đọc chỉ được bình chọn một lần.
Tính đến 14h ngày 18/6, đã có 13.227 bình chọn của bạn đọc cho biết thương hiệu điện thoại di động mà họ đang dùng.
Chi tiết số liệu thăm dò tổng kết cho thấy, thương hiệu Nokia đang dẫn đầu về số lượng máy điện thoại di động đang được bạn đọc VnEconomy sử dụng khi chiếm tới 51,28% tổng số lượt bình chọn (6798/13227).
Tiếp đó là Motorola với 11,41% (1513), Samsung 10,35% (1372), Sony - Ericson 7,65% (1014), O2 6,13% (813), Vertu 4,24% (562), BenQ - Siemens 2,48% (329), Sharp 0,62% (82), LG 0,61% (81), Mobiado 0,43% (57), Panasonic 0,4% (53), HP 0,4% (53), Lenovo 0,38% (51), PalmOne 0,34% (45), Philips 0,23% (30). Những thương hiệu khác trên thị trường chiếm 3,05% (404) tổng số bình chọn.
Việc Nokia đứng đầu trong bảng xếp hạng các thương hiệu điện thoại di động - ngay từ những ngày đầu VnEconomy thực hiện thăm dò - là điều không quá bất ngờ, khi các sản phẩm của nhà sản xuất này liên tục chiếm số lượng lớn trong danh sách thống kê những điện thoại bán chạy nhất. Kết quả bình chọn của VnEconomy khẳng định thêm vị trí quán quân của Nokia tại thị trường Việt Nam.
Mẫu mã sản phẩm đa dạng cùng việc liên tục giới thiệu những dòng sản phẩm mới, phiên bản mới đã giúp Nokia chinh phục thành công nhiều đối tượng khách hàng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, hãng cũng có chiến lược mở rộng thương hiệu một cách hợp lý, trong đó có thể kể đến việc mở rộng số nhà phân phối cũng như tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam.
Việc Nokia “hốt” trên 50% lượng điện thoại di động đang dùng tại Việt Nam dẫn tới “miếng bánh” còn lại chia cho các thương hiệu ở nhóm sau không còn nhiều. Tuy nhiên, nếu thị phần của Nokia có khoảng cách quá xa với những vị trí tiếp sau thì những thương hiệu có vị trí tiếp theo, được chúng tôi gọi là nhóm 2, có khoảng cách thị phần trong nhóm tương đối không quá cách biệt. Đó là các thương hiệu Motorola, Samsung và Sony - Ericson.
Cũng phải nói thêm trong quá trình thực hiện cuộc thăm dò, VnEconomy nhận thấy có sự đổi ngôi liên tục về tỷ lệ bình chọn giữa 3 th
ư
ơng
hiệu này: có lúc Samsung vượt lên trên Motorola trong một thời gian khá dài, và từng có thời điểm Sony - Ericsson ngang ngửa với Motorola. Kết quả mới nhất tương đối bất ngờ: Motorola “nước rút” vượt lên Samsung trong tuần cuối cùng để chiếm vị trí thứ 2 trong danh sách những thương hiệu điện thoại di động được bạn đọc VnEconomy bình chọn nhiều nhất.
Sự điều chỉnh lên xuống giữa 3 anh tài này trong cuộc bình chọn phần nào phản ánh những diễn biến đua tranh quyết liệt của họ trong cuộc chiến giành thị phần tại Việt Nam. Qua khảo sát, kết quả bán hàng của một trung tâm thương mại và một cửa hàng bán điện thoại di động - đều không là đại lý của một thương hiệu nào - tại Hà Nội cho thấy, doanh số bán hàng của họ có sự tương đồng
ở m
ức
đ
ộ
nh
ất
đ
ịnh
với kết quả thăm dò trên VnEconomy. Theo đó, tại trung tâm thương mại thì hàng Samsung bán ra nhiều hơn so với Motorola, còn tại cửa hàng thì kết quả ngược lại.
“Các mẫu Samsung thường được các quan chức, doanh nhân và độ tuổi trung niên, nhất là phụ nữ lựa chọn, trong khi đó các máy Motorola lại là sự lựa chọn của giới trẻ và nam giới độ tuổi trung niên”, một đại diện của trung tâm thương mại cho hay.
Trong năm qua, Motorola đã có nhiều nỗ lực giành vị trí thứ hai từ Samsung tại thị trường Việt Nam. Theo kết quả từ một số báo cáo, nếu năm 2005, Motorola chiếm 10% thị phần (đứng thứ 3), Samsung chiếm 25% (đứng thứ 2) thì sau 10 tháng đầu năm 2006 thị phần của 2 thương hiệu này lần lượt là 20% (thứ 2) và 19% (thứ 3), nhưng kết thúc năm tỷ lệ nắm giữ đều là 20%. Vẫn theo báo cáo này, trong năm 2005 và 2006, Sony - Ericson đều “bình ổn” ở vị trí thứ 4.
Việc bứt phá của Motorola để gần hơn với Samsung được lý giải là nhà sản xuất này đã đầu tư vào việc quảng bá thương hiệu cũng như phối hợp được với một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại di động (S-Fone, HT Mobile) để đưa điện thoại Motorola với giá hấp dẫn đến với người tiêu dùng.
Tại thị trường thế giới, Motorola cũng đã vượt lên trên Samsung, cụ thể trong quý 1/2007, Motorola chiếm 17,7% (ở vị trí thứ 2) thị phần toàn cầu so với 13,6% và SamSung (thứ 3); Nokia ở vị trí dẫn đầu, còn Sony - Ericsson đứng thứ 4.
Nếu vị trí quán quân của Nokia và sự “sánh vai” ở nhóm 2 kể trên đã phản ánh tương đối chính xác thị phần của các nhà sản xuất điện thoại di động tại Việt Nam, thì vị trí của những thương hiệu sau trong cuộc thăm dò trên VnEconomy lại phản ánh một xu thế mới của nhu cầu tiêu dùng điện thoại di động trong nước: hàng cao cấp.
Đó là O2, Vertu và Mobiado, lần lượt ở các vị trí thứ 5, 6 và 11 theo kết quả bình chọn. Điều khá ngạc nhiên ở đây là Vertu - dòng điện thoại thời trang được biết đến với mức giá ngất trời, do đơn vị Vertu trực thuộc Nokia sản xuất - lại nhận được nhiều bình chọn hơn cả BenQ - Siemens và LG, 2 thương hiệu đã xuất hiện khá lâu tại Việt Nam, với tỷ lệ bình chọn lên tới 4,24%.
Có lẽ điều ngạc nhiên này chỉ có thể tìm thấy một cách giải thích hợp lý: nhiều bạn đọc của VnEconomy là những doanh nhân, lãnh đạo các doanh nghiệp, nhà quản lý, nhà đầu tư. Việc Vertu đứng ở vị trí thứ 6 trong bảng kết quả cho thấy lớp bạn đọc này đang rất chuộng hàng điện thoại cao cấp - biểu tượng của sự thành đạt, khi mà báo giá của Vertu dòng “rẻ” nhất cũng lên tới gần 5.000 USD.
Điều này càng có thêm minh chứng với việc Mobiado - mác điện thoại sang trọng có mức giá chỉ sau Vertu tại Việt Nam - cũng chiếm tới 0,43% bình chọn của bạn đọc, vượt trên cả Panasonic, HP, Lenovo, PalmOne, Philips.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.