
Bộ trưởng Bộ Công Thương vừa có yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sớm phối hợp với Vụ Năng lượng, Cục Điều tiết điện lực làm rõ các vấn đề liên quan đến khả năng cung cấp điện để dư luận hiểu rõ thực chất vấn đề và chia sẻ khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Lê Thanh, Tổng giám đốc EVN, về vấn đề này.
Thưa ông, trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp phản ánh việc thiếu điện, cắt điện đã ảnh hưởng lớn đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ, đồng thời cho rằng trách nhiệm này là của EVN?
Với nhu cầu phụ tải liên tục ở mức cao (có ngày lên tới 235 triệu kWh), tình trạng thiếu điện từ đầu tháng 7 đến nay đã trở nên gay gắt hơn nhiều so với tháng 6: khoảng 2.000 - 2.500 MW so với mức 1.000 - 1.500 MW.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do hầu hết các dự án nguồn nằm trong kế hoạch đưa vào vận hành đầu năm 2008 đều bị chậm tiến độ. Một số nguồn điện quan trọng trong và ngoài EVN như nhiệt điện Uông Bí mở rộng 1 (công suất 300 MW), tua bin khí (360 MW) của nhiệt điện Phú Mỹ 2.2 gặp sự cố phải sửa chữa trong thời gian dài (riêng Uông Bí mở rộng 1 ít nhất phải đến tháng 11).
Các nhà máy nhiệt điện Cà Mau 1 (750 MW), Cà Mau 2 (750 MW), Nhơn Trạch 1 (450 MW) đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm nên phát công suất thấp; trong khi nhiều hồ thuỷ điện lớn ở phía Nam như Ialy, Hàm Thuận, Trị An đều đã ở mực nước chết, chỉ huy động phát điện được vài giờ trong một ngày để phủ đỉnh, dẫn tới tình trạng vừa bị mất sản lượng vừa bị mất công suất.
Hiện tại công suất khả dụng của hệ thống ở mức tương đối thấp so với công suất lắp đặt: hơn 11.000/15.600 MW trong khi nhu cầu cực đại có lúc đã vượt quá con số 13.500 MW. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống, EVN đã buộc phải chỉ đạo việc sa thải phụ tải đột xuất vào giờ cao điểm, thực hiện cắt điện luân phiên trong thời gian vừa qua.
Tuy là những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, nhưng với tư cách là đơn vị có nhiệm vụ cung cấp điện năng cho đất nước, EVN xin nhận trách nhiệm này, cáo lỗi trước tất cả các khách hàng sử dụng điện. Đồng thời chúng tôi cũng khẳng định sẽ làm hết khả năng có thể để sớm khắc phục tình trạng thiếu điện gay gắt như hiện tại.
Không “thiếu điện gay gắt” có nghĩa là việc thiếu điện sẽ vẫn tiếp diễn?
Theo nhận định thì tình hình chỉ có thể cải thiện sớm nhất là vào cuối tháng 7, khoảng ngày 25 - 30 hoặc đầu tháng 8 tới, khi một số nguồn điện gặp sự cố được sửa chữa xong (trước mắt là nhiệt điện Phú Mỹ 2 - 2 trong 3 - 5 ngày tới) và những nguồn điện mới đưa vào vận hành dần nâng được công suất. Việc thiếu điện lúc đó chỉ có thể xảy ra vào thời gian cao điểm, từ 9h - 11h hàng ngày chứ không còn gay gắt như hiện nay, đồng thời chất lượng điện áp cũng sẽ được cải thiện đáng kể.
Về lâu dài, bên cạnh việc đề nghị Vụ Năng lượng, Bộ Công Thương đôn đốc các chủ đầu tư các dự án điện BOT, IPP như nhiệt điện Cà Mau, Nhơn Trạch... đưa vào vận hành đúng tiến độ đã đăng ký; EVN cũng đã chỉ đạo các nhà máy điện thành viên bố trí lại lịch sửa chữa, bảo dưỡng các tổ máy, đẩy nhanh thời gian sửa chữa và bảo dưỡng từ 10 - 15 ngày bằng việc chuẩn bị sẵn sàng, đầy đủ vật tư, thiết bị và nhân lực để làm việc 3 ca liên tục, thậm chí là thuê chuyên gia nước ngoài giỏi sang tham gia sửa chữa, bảo dưỡng cho kịp yêu cầu.
Trong bối cảnh như vậy, EVN có những biện pháp nào để giảm thiểu thiệt hại cho khách hàng sử dụng điện, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất, thưa ông?
Từ đầu năm đến nay, mặc dù luôn phải đối phó với tình trạng mất cân đối về cung - cầu điện năng, nhưng EVN đã tìm nhiều biện pháp, trong đó có việc mua ngoài với giá cao một lượng điện năng lớn để đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải tối đa có thể được, nhất là đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh và nhu cầu thiết yếu của xã hội.
Trong 6 tháng cuối năm, với nhận định sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn, nhưng phương châm này sẽ sẽ tiếp tục được thực hiện. Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất ở mức có thể và điều kiện kỹ thuật cho phép, EVN sẽ tăng cường phương thức phân phối điện phù hợp, cố gắng bảo đảm công bằng và hợp lý giữa các hộ sử dụng điện, không để xảy ra tình trạng tụt điện áp dẫn tới rã lưới. Việc tiết giảm điện khi thiếu điện sẽ được thực hiện theo đúng kế hoạch để giúp các khách hàng chủ động được kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Theo tình hình dự báo về công suất khả dụng của hệ thống, EVN sẽ thông báo đến các Công ty Điện lực trước 10 ngày để các Công ty tùy theo công suất được phân bổ để điều tiết đối với từng khu vực, có kế hoạch cắt điện cụ thể và thông báo trước với khách hàng về địa điểm cũng như thời gian.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.