Tính đến cuối năm 2020, thị trường điện toán đám mây của Việt Nam đạt khoảng 200 triệu USD (4.600 tỷ đồng), tuy nhiên doanh nghiệp Việt mới chỉ chiếm được 20%, còn lại 80% là rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài.
Trong một báo cáo mới đây của Bộ Thông tin và Truyền thông, có đưa ra nhận định, thị trường dịch vụ Cloud ở Việt Nam được đánh giá sẽ rất phát triển, các nghiên cứu của những tổ chức nghiên cứu quốc tế uy tín cũng dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình của thị trường Cloud Việt Nam sẽ là 26% mỗi năm (cao nhất trong khu vực ASEAN), và cao hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng trung bình 16% trên toàn cầu.
Theo tính toán, trung bình chi cho dịch vụ Cloud hiện nay của một doanh nghiệp vào khoảng 66,6 triệu đồng/năm, hiện chỉ có 56% doanh nghiệp dùng dịch vụ Cloud.
“Tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam là khoảng 800.000 doanh nghiệp, với những lợi ích mang lại từ dịch vụ Cloud và các chính sách liên quan trong thời gian tới sẽ thúc đẩy nhiều hơn nữa doanh nghiệp sử dụng dịch vụ Cloud, nếu đến năm 2025 toàn bộ doanh nghiệp chuyển dịch lên dùng Cloud thì thị trường sẽ đạt hơn 53,2 nghìn tỷ đồng (tương đương 2,3 tỷ đô la)”, Bộ Thông tin và Truyền thông nhận định.
Thời gian qua, người sử dụng chứng kiến những hãng cung cấp dịch vụ lưu trữ trực tuyến lớn đồng loạt thông báo thu phí lưu trữ người dùng (iCloud thu 228.000 đồng/năm/50G lưu trữ; Google thu 450.000 đồng/năm/100G lưu trữ). Với chiến lược phát triển có 100 triệu người dân Việt Nam sử dụng Internet thì theo tính toán thị trường cung cấp dịch vụ lưu trữ trên Cloud ở Việt Nama có thể đạt hơn 10,8 nghìn tỷ đồng (tương đương 0,4 tỷ đô la).
Thực tế, “bệ đỡ” cho đà tăng trưởng của dịch vụ đám mây còn được cộng hưởng bởi quy mô dân số cũng như quỹ đạo tăng trưởng dữ liệu của quá trình chuyển đổi sang chính phủ số, xã hội số và kinh tế số, đòi hỏi cần sự phát triển mạnh mẽ của các trung tâm dữ liệu, nơi đáp ứng yêu cầu lữu trữ, tính toán, xử lý dữ liệu ngày càng gia tăng.
Theo thống kê, hiện nay, Việt Nam có khoảng 27 Trung tâm dữ liệu (Datacenter) do 11 doanh nghiệp trong nước đầu tư với hơn 113.120 máy chủ, tổng diện tích mặt sản là 173.619 m2 với tổng công suất 15MW, tiêu chuẩn thiết kế đều đạt Tier 3 và Uptime Tier 3, đang cung cấp cho hơn 26.500 khách hàng và có khả năng lưu trữ 60.000 T-byte dữ liệu.
Trong báo cáo xây dựng chiến lược hạ tầng số đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 Bộ Thông tin và Truyền thông có đặt ra mục tiêu: “70% thị phần dịch vụ điện toán đám mây tại Việt Nam thuộc các nhà cung cấp dịch vụ trong nước”.
Nhiệm vụ trên xem ra khá “nặng” và khó khăn. Bởi hiện nay, trong “miếng bánh” 4.600 tỷ đồng tính đến cuối năm 2020, doanh nghệp Việt Nam mới chiếm khoảng 20% thị phần các sản phẩm, dịch vụ điện toán đám mây trong nước (tương đương hơn 900 tỷ đồng), 80% thị phần còn lại do nhà cung cấp nước ngoài cung cấp (Google, AWS, Microsoft Azure,...).
Trong các chỉ tiêu so sánh giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và quốc tế (gồm: thương hiệu; hệ sinh thái sản phẩm; năng lực cạnh tranh giá; năng lực bán hàng; chất lượng dịch vụ; năng lực công nghệ) thì các nhà cung cấp trong nước chỉ có lợi thế về cạnh tranh giá (linh hoạt), trong doanh nghiệp ngoại thì giá rẻ.
Hai chỉ số quan trọng là năng lực công nghệ (doanh nghiệp Việt mới đang phát triển – doanh nghiệp ngoại: mạnh), và đặc biệt là hệ sinh – có thể xem là yếu tố quyết định sử dụng của người dùng- thì doanh nghiệp Việt đang ở tình thế bất lợi khi chỉ có khoảng 40 sản phẩm, còn doanh nghiệp nước ngoài có tới hơn 150 sản phẩm.
Theo đánh giá, các nhà cung cấp dịch vụ Cloud tại Việt Nam có thế mạnh về hạ tầng kết nối, năng lực về Data Center, đáp ứng tốt nhất mảng dịch vụ Hạ tầng IaaS, riêng mảng Nền tảng (PaaS) và SaaS còn rất hạn chế (chỉ có một số dịch vụ). Dịch vụ PaaS đòi hỏi đầu tư dài hạn nguồn lực và công nghệ, nghiên cứu, phát triển và có hệ thống khách hàng, đối tác lớn, các nhà cung cấp trong nước phần lớn chưa phát triển đủ mạnh để cạnh tranh với hệ sinh thái của nhà cung cấp nước ngoài.
Một số thách thức, nguyên nhân khiến các nhà cung cấp trong nước chưa có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển như: chưa tạo được niềm tin của doanh nghiệp trong việc sử dụng dịch vụ đám mây; nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự hiểu rõ về điện toán đám mây; tỷ lệ cơ quan nhà nước ở nước ta sử dụng dịch vụ Cloud còn rất thấp.
Hay chưa có quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân và chưa có chính sách về quản lý dịch vụ điện toán đám mây; chưa thúc đẩy việc sử dụng điện toán đám mây thông qua nâng cao nhận thức, phát triển kỹ năng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Giới chuyên gia cho rằng, Nhà nước cần ban hành các chính sách về phân loại dữ liệu để quản lý, bảo vệ vì dữ liệu được coi như loại dầu mới của nền kinh tế kỹ thuật số (Data Is the New Oil of the Digital Economy), nếu không có chính sách bảo vệ thì tổ chức, doanh nghiệp không yên tâm khi đưa tài sản đó lên “mây”.




Bang New York (Mỹ) sẽ tạm dừng cấp phép cho các dự án trung tâm dữ liệu quy mô lớn trong một năm, đồng thời cũng xem xét bãi bỏ ưu đãi thuế đối với các dự án...
Every Half Coffee Roasters vừa công bố hoàn tất vòng gọi vốn series A trị giá 8 triệu USD, mở ra nhiều cơ hội mới cho ngành cà phê đặc sản Việt Nam trên thị trường quốc tế…
Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc, xuất khẩu chip là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của nước này trong nửa đầu năm…
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Với tổng vốn đầu tư lũy kế hơn 80 tỷ USD, Nhật Bản không chỉ là đối tác kinh tế hàng đầu mà còn là người bạn đồng hành tin cậy của Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh, dư địa hợp tác giữa hai nước đang ngày càng mở rộng, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2026 của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...