Sáng 29/7, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh chủ trì cuộc họp về việc áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật cho dự án đường sắt và công tác xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn trong lĩnh vực đường sắt.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Phạm Minh Hà nhấn mạnh, với các dự án công nghệ phức tạp, đặc biệt trong lĩnh vực Việt Nam chưa từng triển khai, công tác thẩm định công nghệ cần được thực hiện trước thẩm định dự án. Đối với đường sắt tốc độ cao, chỉ khi xác định được công nghệ áp dụng mới có thể lựa chọn và áp dụng tiêu chuẩn tương ứng.
Thứ trưởng Phạm Minh Hằng cho rằng trước mắt, cần rà soát các tiêu chuẩn có thể dùng chung trong lĩnh vực đường sắt và nghiên cứu thêm các tiêu chuẩn quốc tế có khả năng áp dụng tại Việt Nam. Khi công nghệ đã được xác định, quá trình triển khai sẽ chủ động, không bị thiếu cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật.
Thứ trưởng Nguyễn Danh Huy cũng cho rằng việc xác định các thông số kỹ thuật chủ yếu của dự án là yêu cầu cấp thiết. Trên cơ sở đó, đơn vị tư vấn sẽ lựa chọn công nghệ và đề xuất danh mục tiêu chuẩn tương ứng.
"Theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, dự án có thể đồng thời áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn nước ngoài, miễn là phù hợp với công nghệ đã lựa chọn.", Thứ trưởng Nguyễn Danh Huy nói.
Báo cáo tại cuộc họp, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ môi trường và Vật liệu xây dựng Lê Trung Thành cho biết, hiện Bộ Xây dựng (trước đây là Bộ Giao thông vận tải) đã xây dựng và công bố 11 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và 130 Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) áp dụng cho một số hạng mục liên quan đến đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa và đường sắt đô thị.
Riêng đường sắt tốc độ cao, đến nay đã có 81 TCVN được công bố và 36 dự thảo TCVN đang được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn châu Âu và tiêu chuẩn quốc tế. Khi các dự thảo hoàn tất, tổng số TCVN áp dụng cho dự án sẽ đạt 117 tiêu chuẩn.
Tuy nhiên, ông Thành cũng cho biết, hiện hệ thống tiêu chuẩn chủ yếu tập trung vào hạ tầng kỹ thuật, trong khi các tiêu chuẩn chuyên sâu về công nghệ kỹ thuật cao vẫn đang trong quá trình xây dựng. Vì dự án đường sắt tốc độ cao chưa xác định được công nghệ cụ thể, nên các tiêu chuẩn liên quan đến công nghệ vẫn chưa thể hoàn thiện.
Được biết, trên thế giới hiện có 21 quốc gia và vùng lãnh thổ đang khai thác và 7 quốc gia đang xây dựng đường sắt tốc độ cao. Tuy nhiên, chỉ một số quốc gia có nền công nghiệp phát triển mới xây dựng được bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng.
Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về đường sắt tốc độ cao được chia thành hai nhóm chính: nhóm quốc gia tự phát triển công nghệ (như Nhật Bản, Pháp...) và nhóm quốc gia tiếp nhận công nghệ (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan...). Cấu trúc hệ thống tiêu chuẩn thường bao gồm năm lĩnh vực: hạ tầng, năng lượng (điện), thông tin – tín hiệu – điều khiển, phương tiện, và vận hành – khai thác – bảo trì.
Trên cơ sở yêu cầu kỹ thuật của dự án, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh giao Vụ Khoa học công nghệ môi trường và Vật liệu xây dựng phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tiến hành phân loại hệ thống đường sắt thành ba nhóm chính: đường sắt đô thị, đường sắt thông thường (vận tốc dưới 200km/h) và đường sắt tốc độ cao (trên 200km/h đến dưới 400km/h).
Đồng thời, tiếp tục rà soát, thống kê các tiêu chuẩn hiện hành, xác định rõ từng tiêu chuẩn thuộc nhóm nào (hạ tầng, tín hiệu, phương tiện, an toàn...) và đánh giá khả năng áp dụng cho từng loại hình.
Bộ trưởng yêu cầu Vụ chủ trì xây dựng báo cáo tổng hợp nội dung nêu trên, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định để kịp trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/8 tới.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế chưa bao giờ là mục tiêu tự thân. Đằng sau tăng trưởng, sản xuất và tích lũy của cải là một yêu cầu nhất quán: làm cho nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời, tạo nền tảng để dân tộc vươn lên độc lập, tự cường, phồn vinh. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm và khơi dậy khát vọng dân tộc tiếp tục gợi mở một hệ quy chiếu quan trọng cho lựa chọn mô hình phát triển.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 35+36-2026 phát hành ngày 31/08-07/09/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…
Trong những ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, thành phố Huế đang trở thành điểm đến sôi động với hàng loạt hoạt động văn hóa, ẩm thực, âm nhạc và giải trí được tổ chức liên tiếp, tạo thêm nhiều trải nghiệm cho người dân và du khách.