
Mặc dù có xu hướng tăng tuy nhiên cơ quan quản lý cho rằng, thị trường lợn hơi không lo khan hàng, sốt giá trong thời gian tới do nguồn lợn tại các công ty lớn vẫn khá dồi dào.
Báo cáo mới nhất từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, trong tháng 4/2019, giá lợn hơi có xu hướng tăng trở lại. Nguyên nhân chủ yếu là sự lây lan của dịch tả lợn châu Phi (ASF) thời gian qua khiến người chăn nuôi bán tháo trước đó để tránh nhiễm virus nhưng sau đó không dám tái đàn và nhu cầu từ phía người tiêu dùng đã tăng trở lại.
So với cuối tháng 3/2019, giá lợn tại nhiều tỉnh, thành tăng từ 4.000 - 6.000 đồng/kg lên phổ biến trong khoảng 39.000 - 49.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại thời điểm cuối tháng 4/2019, giá thịt lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động từ 31.000 - 41.000 đồng/kg, tăng 2.000 - 5.000 đồng/kg so với cuối tháng 3/2019.
Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên phổ biến từ 35.000 - 44.000 đồng/kg, tăng 1.000 - 6.000 đồng/kg.
Giá lợn hơi thương lái thu mua tại các khu vực chăn nuôi trọng điểm phía Nam hiện trung bình từ 40.000 - 48.000 đồng/kg, tăng 3.000 - 5.000 đồng/kg so với cuối tháng 3/2019.
Cục Xuất nhập khẩu đánh giá, thị trường tiêu thụ lợn đang hồi phục tốt và gần trở lại mức trước khi xảy ra dịch tả lợn châu Phi. Mặc dù có xu hướng tăng giá nhưng thị trường lợn hơi không lo khan hàng, sốt giá trong thời gian tới vì nguồn lợn tồn tại các công ty lớn vẫn khá dồi dào.
Đây cũng là nguyên nhân khiến các công ty chăn nuôi đang hạ giá thịt lợn để đẩy hàng ra thị trường. Mặt khác, một số doanh nghiệp đang có kế hoạch tăng nhập khẩu thịt lợn nên thị trường sẽ khó xảy ra biến động mạnh về giá.
Trong khi đó, tại thị trường thế giới, giá lợn nạc giao kỳ hạn tháng 5/2019 tại Chicago, Hoa Kỳ tăng. Ngày 25/4/2019, giá lợn nạc giao kỳ hạn tháng 5/2019 giao dịch ở mức 87,8 UScent/lb, tăng 8,2 UScent/lb so với cuối tháng 3/2019 (tương đương tăng 10,3%) và tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Tại Trung Quốc, giá lợn hơi đã tăng hơn 3 Nhân dân tệ/kg so với cuối tháng 3/2019, hiện dao động trong ngưỡng 14-18 Nhân dân tệ/kg (tương đương 48.409 - 62.241 đồng/kg).
Theo báo cáo tháng 4/2019 của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng thịt lợn toàn cầu dự báo sẽ giảm khoảng 4% trong năm 2019, còn gần 108,5 triệu tấn do sản lượng giảm mạnh ở Trung Quốc.
Dịch tả lợn châu Phi (ASF) đã dẫn đến việc tiêu hủy hàng triệu con lợn tại nước này. Trong khi đó, tại các quốc gia khác, sản xuất thịt lợn lại đang tăng trưởng khá tốt, dẫn đầu là Hoa Kỳ với mức tăng đạt khoảng 4% và Brazil là 6%.
Sản lượng thịt lợn của EU trong năm 2019 sẽ giảm rất nhẹ so với năm 2018 do giá lợn hơi giảm và chi phí thức ăn cao hơn. Nếu năm 2018 là 24,3 triệu tấn thì năm 2019 dự báo là 24,2 triệu tấn. Tuy nhiên, triển vọng xuất khẩu có xu hướng cải thiện có thể khuyến khích các nhà sản xuất mở rộng đàn vào cuối năm 2019.
Xuất khẩu thịt lợn toàn cầu được dự báo sẽ cao hơn khoảng 8% trong năm 2019 do nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh từ thị trường Trung Quốc và tăng trưởng kinh tế ổn định ở hầu hết các thị trường thịt lợn lớn.
Liên minh châu Âu (EU) sẽ vẫn là khu vực xuất khẩu hàng đầu thế giới, với khối lượng ước đạt 3,25 triệu tấn trong năm 2019, tăng 11% so với năm 2018. Hoa Kỳ, Canada và Braxin cũng được dự báo lượng xuất khẩu cũng sẽ cao hơn năm trước.
Với nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là quốc gia có nhu cầu nhập khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới, với mức nhập khẩu năm 2019 được dự báo tăng 41% so với năm 2018 do tác động từ sự suy giảm đàn lợn nội địa do dịch ASF gây ra.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.