
Dư luận
đang
xôn xao về thông tin sản phẩm bồn nước inox mà Trung tâm Kỹ thuật 1 (Tổng cục Đăng ký chất lượng) kiểm định có hàm lượng mangan (Mn) cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
Mới đây, Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Toàn Mỹ - nhà sản xuất sản phẩm - đã cung cấp thêm một số thông tin về vấn đề này đến người tiêu dùng đang sử dụng bồn nước inox.
Ông Nguyễn Thế Hoán, Tổng giám đốc Công ty Toàn Mỹ khẳng định: việc nhìn nhận Mn trong thành phần inox sản xuất bồn "tan" trong nước và từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe là chưa có cơ sở khoa học chính xác.
Các kết luận của cơ quan chức năng về hàm lượng hóa chất trong nguyên liệu sản xuất sản phẩm chưa đồng nghĩa với ý kiến cho rằng hàm lượng này sẽ ảnh hưởng có hại cho người sử dụng. Cụ thể, đang có sự nhầm lẫn về khái niệm "vượt tiêu chuẩn" của hàm lượng hóa chất độc hại trong nguyên liệu sản xuất bồn và nước sử dụng.
Minh chứng cho vấn đề này, theo ông Hoán, cả 2 loại nguyên liệu inox mà Cty dùng để sản xuất bồn nước là inox 202 và inox 304 đều đảm bảo mức độ an toàn trong sử dụng với 3 kết quả xét nghiệm của mẫu nước trong bồn mà Toàn Mỹ gửi đến Viện Pasteur (VILAS) kiểm nghiệm trong thời gian gần đây.
Đơn cử, tại phiếu kết quả kiểm nghiệm số 25.243 B ngày 29/11/2006 của VILAS đã cho kết quả hàm lượng Mn là 0,1 mg/l, dưới giới hạn của "nước sạch" là 0,5 mg/l (Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT của Bộ Y tế).
Tương tự, hàm lượng các chất NH4, NO2, SO4, Clorua cũng đều thấp hơn khá nhiều so với tiêu chuẩn giới hạn.Bên cạnh đó, phía Toàn Mỹ cũng cung cấp thêm bằng chứng về việc hàm lượng Mn cao trong nguyên liệu inox không đồng nghĩa với việc gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Tại Nhật Bản, hiện đang sử dụng khá rộng rãi loại inox NTKD - 11 có hàm lượng Mn từ 5,5 đến 7,5% và được Viện nghiên cứu thực phẩm Nhật Bản chứng nhận cho phép sử dụng. Chính phủ Italia cũng có một quy định ban hành vào năm 1973 cho phép sử dụng inox 202 để chế tạo các dụng cụ tiếp xúc với thực phẩm như đồ nấu ăn, dao, nĩa...
Ngay tại Việt Nam, hiện vẫn chưa có quy định về hàm lượng Mn trong inox với mức bao nhiêu thì không được phép sản xuất bồn chứa nước.Về vấn đề kết luận của Trung tâm Kỹ thuật 1 là Toàn Mỹ sử dụng loại nguyên liệu inox 202, không đúng mác SUS 304 theo tiêu chuẩn, nhà sản xuất thừa nhận đây là việc nhằm đa dạng hóa sự lựa chọn về giá cả cho khách hàng.
Với giá thấp hơn khoảng 15%, inox 202 chỉ thấp hơn Inox 304 về độ bền, trong khi thành phần hóa học cũng được cấu tạo gần tương tự, cũng có các nguyên tố Ni, Cr nhằm chống mài mòn và gỉ sét. Loại bồn sử dụng inox 202 này chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng số sản phẩm của công ty đưa ra thị trường, với nhãn mác Gia Mỹ và giá bán cũng hạ hơn khoảng 10%.
Ông Hoán cũng cho biết thêm là Toàn Mỹ đã ngừng ngay việc sản xuất bồn bằng nguyên liệu inox 202 để chờ kết quả kiểm định chính thức về mức độ ảnh hưởng của sản phẩm từ các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, thay đổi công bố tiêu chuẩn chất lượng, làm rõ và chính xác hơn các thông tin, nhưng không hạ thấp hơn mức chuẩn về chất lượng sản phẩm mà công ty đã cam kết với khách hàng từ trước đến nay.
Ông Hoàng Lâm, Phó giám đốc Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 nhận định: "Vấn đề cơ bản là xét nghiệm thành phần nước đựng trong bồn inox có chứa các chất gây độc hại hay không chứ không phải lấy thành phần của bồn chứa rồi suy diễn đến thành phần nước đựng trong đó.
Thí dụ, chén men sứ dùng ăn cơm trong thành phần của men còn nhiều chất độc hại hơn nhưng ta vẫn dùng ăn cơm hàng ngày. Đó là chưa kể thời gian nước lưu giữ trong bồn là bao lâu, có đủ dài để các chất gọi là độc hại "tan" ra để gây ung thư".
Theo ông Hoán, Toàn Mỹ cũng đã đề nghị các cơ quan chức năng xét nghiệm nồng độ các chất độc hại trong nước chứa trong bồn Inox 202 và dự kiến đến cuối tuần này sẽ có kết quả chính thức.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.