Ngày 24/6, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 9, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tương trợ tư pháp về hình sự. Các đại biểu nhất trí với Tờ trình của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về sự cần thiết ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
Đây là một dự án luật có ý nghĩa chiến lược, không chỉ hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn tạo ra một thanh bảo kiếm pháp lý sắc bén để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và quyền lợi của người dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và tình hình tội phạm diễn biến phức tạp.
Việc ban hành một đạo luật chuyên sâu về tương trợ tư pháp hình sự không chỉ là yêu cầu nội tại của công tác cải cách tư pháp mà còn là một bước đi tất yếu thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế trong công cuộc đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm xuyên quốc gia
Tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Tâm Hùng, đoàn Bà Rịa- Vũng Tàu, nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, nhằm tách bạch, chuyên biệt hóa lĩnh vực tương trợ hình sự, vốn là một hoạt động có tính phức tạp cao, liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia, quyền con người và hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia.
Quan tâm vấn đề áp dụng nguyên tắc có đi có lại được quy định tại Điều 6, đại biểu cho rằng nguyên tắc này phù hợp về mặt chủ quyền, nhưng nếu không có tiêu chí rõ ràng sẽ dễ dẫn đến việc xử lý tùy nghi, thiếu nhất quán.
Đại biểu đoàn Bà Rịa- Vũng Tàu đề nghị Ban soạn thảo xem xét, bổ sung nội dung về danh mục các quốc gia đã có tiền lệ hợp tác để làm căn cứ áp dụng nguyên tắc có đi có lại; về cơ chế công bố, công khai quyết định từ chối hỗ trợ của nước ngoài để tạo sức ép và giải pháp phù hợp.
Về giá trị pháp lý của kết quả tương trợ tư pháp, hiện nay, một trong những khó khăn lớn nhất là kết quả tương trợ từ nước ngoài không rõ giá trị về chứng cứ, dẫn đến việc cơ quan tố tụng trong nước dè dặt khi sử dụng. Dự thảo luật chỉ quy định chung rằng có giá trị pháp lý là chưa đủ.
Do vậy, đại biểu đề nghị ban soạn thảo xem xét cần quy định rõ giá trị pháp lý của từng loại kết quả như chứng cứ, vật chứng, lời khai…, kèm theo các điều kiện về xác minh, chứng thực, đặc biệt trong trường hợp gửi qua phương tiện điện tử. Điều này rất quan trọng để bảo vệ quyền công tố và tránh tranh chấp khi tổ chức công tác xét xử.
Đối với quy định về lấy lời khai trực tuyến, ông Hùng cho rằng đây là quy định hoàn toàn mới, phù hợp với xu hướng toàn cầu. Tuy nhiên, dự thảo chưa quy định rõ hiệu lực pháp lý của lời khai trực tuyến, cách thức lưu trữ, chứng thực và sử dụng tại tòa án.
“Trong thực tiễn, rất nhiều vụ án có nhân chứng, người bị hại ở nước ngoài nhưng không thể triệu tập về Việt Nam, dẫn đến việc không thể hoàn thiện hồ sơ”. Đại biểu nêu và đề nghị ban soạn thảo xem xét, bổ sung các quy định cụ thể về phương thức ghi hình, lưu trữ, chuyển giao bản ghi cũng như trách nhiệm các cơ quan bảo đảm tính xác thực.
Về áp dụng biện pháp bảo đảm việc tịch thu, xử lý vật chứng, tài sản tại Điều 32, dự thảo luật đã có tiến bộ khi quy định rõ phạm vi tịch thu, xử lý tài sản có yếu tố nước ngoài, nhưng còn thiếu quy định cụ thể về chia sẻ tài sản khi thu được.
Đại biểu Hùng cho hay "thực tiễn xử lý các vụ án rửa tiền, buôn bán ma túy xuyên quốc gia cho thấy tài sản liên quan thường nằm rải rác ở nhiều quốc gia. Nếu không có cơ chế chia sẻ tài sản, Việt Nam sẽ khó thu hồi thiệt hại cho ngân sách và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm".
Cùng góp ý về các quy định hợp tác quốc tế trong việc thu hồi tài sản của dự thảo luật, đại biểu Trần Thị Thu Phước, đoàn Kon Tum khẳng định “đây là lần đầu tiên luật đã đưa ra các quy định về hợp tác quốc tế trong việc thu hồi tài sản, là một bước tiến lớn, đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác phòng chống tham nhũng, rửa tiền”.
Tuy nhiên, theo đại biểu, các quy định về thỏa thuận chia sẻ tài sản tại khoản 2 và khoản 5 của Điều 32 còn chung chung, chưa tạo ra được một cơ chế đủ rõ ràng, minh bạch để khuyến khích các nước đối tác ưu tiên hợp tác với Việt Nam.
Để có thể giải quyết vấn đề này, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 32 với nội dung: "Chính phủ quy định chi tiết các nguyên tắc, trình tự, thủ tục về thỏa thuận chia sẻ tài sản với nước ngoài trên cơ sở phù hợp với pháp luật của Việt Nam, Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng và thông lệ quốc tế".
Theo đại biểu, “thực tiễn công tác thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài của chúng ta trong thời gian qua cũng còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc chúng ta có các thỏa thuận rõ ràng về quản lý, sử dụng và đặc biệt là chia sẻ phần tài sản thu hồi được là yếu tố then chốt để thúc đẩy hợp tác.




Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Liên bang Nga góp phần thúc đẩy hợp tác ASEAN - Nga đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thêm động lực cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nga.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí thúc đẩy triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, tạo đột phá trong hợp tác năng lượng, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Đức củng cố tin cậy chính trị, tận dụng EVFTA, mở rộng hợp tác trong thương mại, đầu tư, công nghệ, kinh tế xanh và đào tạo nhân lực.
Sáng 19/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về tới Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga tại Liên bang Nga.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nga, đồng thời đề nghị Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực tiềm năng.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.