Tuy nhiên, các lệnh trừng phạt của Mỹ, những rủi ro an ninh và bất đồng về quyền kiểm soát tuyến hàng hải đang đặt ra nhiều dấu hỏi về khả năng triển khai thực tế của thỏa thuận.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmail Baghaei cho biết thỏa thuận với Oman, quốc gia nằm ở phía bên kia eo biển Hormuz, đang ở “giai đoạn cuối” của quá trình rà soát và soạn thảo, với điều kiện không có bên thứ ba can thiệp vào tiến trình này.
Theo hãng thông tấn nhà nước Iran IRNA, hai quốc gia vùng Vịnh đã thống nhất các tọa độ địa lý cho một tuyến hàng hải đi qua eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, ông Baghaei nhấn mạnh rằng ngay cả khi đạt được thỏa thuận, điều đó cũng không đồng nghĩa eo biển Hormuz sẽ trở nên an toàn đối với tất cả tàu thuyền qua lại. “Các yếu tố khiến eo biển Hormuz mất an ninh vẫn tồn tại từ phía Mỹ, đặc biệt là hoạt động phong tỏa hải quân cùng những hành động gây hấn và đe dọa khác nhằm vào Iran và các lợi ích của nước này”, ông nói.
Eo biển Hormuz là một trong những tuyến vận tải năng lượng quan trọng nhất thế giới, kết nối Vịnh Ba Tư với Vịnh Oman và Biển Arab. Bất kỳ sự gián đoạn kéo dài nào tại đây đều có thể tác động trực tiếp tới dòng chảy dầu khí quốc tế và giá năng lượng.
Thứ trưởng Ngoại giao Iran Kazem Gharibabadi cũng cho biết một thỏa thuận về “các phương án vận tải hàng hải mới” đang gần hoàn tất, theo IRNA. Ông Gharibabadi nhấn mạnh rằng phương án được đề xuất không phải là việc mở cửa hoàn toàn eo biển Hormuz, mà là thiết lập một mô hình mới cho hoạt động giao thông hàng hải.
Theo IRNA, tuyến hàng hải dự kiến mang tính tạm thời và có thể duy trì hoạt động trong khoảng 2-4 tháng. Điều này cho thấy Tehran đang hướng tới một giải pháp có giới hạn, nhằm khôi phục một phần dòng vận tải qua eo biển trong bối cảnh căng thẳng với Mỹ vẫn chưa được giải quyết. Iran tuyên bố bất kỳ việc mở lại eo biển nào cũng phải đi kèm với việc chấm dứt hoạt động phong tỏa của Mỹ đối với các cảng của Iran.
Theo các nguồn tin được Agence France-Presse (AFP) dẫn lại, Iran dự kiến ngăn tàu của Mỹ và Israel đi qua tuyến đường thủy này như một phần của thỏa thuận với Oman. Iran cũng cho rằng các tàu đi qua eo biển cần phải trả phí để được bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, Oman không ủng hộ việc Iran đơn phương kiểm soát tuyến đường thủy chiến lược này.
Sự khác biệt trong cách tiếp cận cho thấy ngay cả khi Tehran và Muscat đạt được đồng thuận về một tuyến hàng hải cụ thể, việc triển khai trên thực tế vẫn có thể gặp nhiều vấn đề.
Đối với Oman, việc duy trì tự do hàng hải và ổn định tại eo biển Hormuz có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong khi đó, Iran muốn duy trì quyền kiểm soát và đòn bẩy chiến lược đối với hoạt động vận tải đi vào Vịnh Ba Tư.
Theo các nguồn tin trong ngành được Reuters dẫn ngày 7/8, một thỏa thuận giữa Iran và Oman nhằm trao cho Tehran quyền kiểm soát các tàu đi vào Vịnh Ba Tư qua eo biển Hormuz khó có thể triển khai dễ dàng do các lệnh trừng phạt của Mỹ và những điều khoản bảo hiểm hạn chế liên quan đến thanh toán.
Đây là một trong những trở ngại lớn nhất đối với bất kỳ cơ chế vận tải mới nào qua Hormuz. Một tuyến hàng hải có thể được xác lập về mặt địa lý, nhưng để các doanh nghiệp vận tải thực sự sử dụng tuyến này còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán, bảo hiểm và mức độ chấp nhận rủi ro của các hãng tàu.
Các nhà phân tích vì vậy cảnh báo rằng bất kỳ thỏa thuận nào về việc mở lại eo biển cũng nên được nhìn nhận như một “khoảng dừng chiến thuật”, thay vì một giải pháp lâu dài cho cuộc đối đầu giữa Iran và Mỹ.
Chuyên gia phân tích an ninh Shukriya Bradost nhận định với DW rằng một khoảng dừng như vậy thậm chí có thể mang lại lợi ích cho Washington nhiều hơn Tehran.
Theo bà, Mỹ có thể tận dụng khoảng thời gian này để tăng cường phối hợp với các đối tác trong khu vực, rà soát chiến lược quân sự và chuẩn bị những phương án mạnh hơn. “Trong khi đó, Iran vẫn sẽ phải đối mặt với sức ép kinh tế, những chia rẽ nội bộ và các chi phí chính trị, an ninh ngày càng gia tăng”, bà nói.
“Nếu khoảng thời gian này chỉ trở thành một sự tạm dừng căng thẳng và Tehran không giành được lợi ích chiến lược cụ thể nào, thì thời gian trôi qua có thể mang lại lợi ích cho Mỹ nhiều hơn bất kỳ bên nào khác”, bà Bradost nhận định.
Những bất đồng căn bản về tương lai quản lý eo biển Hormuz cũng là một vấn đề khó giải quyết. Babak Dorbeiki, nhà phân tích chính trị tại London và từng là quan chức tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Iran, cho rằng Tehran và Washington đang theo đuổi những mục tiêu hoàn toàn khác nhau.
“Iran muốn kiểm soát các tàu đi vào eo biển, trong khi Mỹ muốn tự do hoàn toàn trong hoạt động đi lại. Hai lập trường này không dễ dung hòa”, ông Dorbeiki nói với DW.
Dù còn nhiều rào cản, một thỏa thuận hạn chế giữa Iran và Oman vẫn có thể mang lại lợi ích chiến thuật cho các bên.
Alireza Salavati, nhà bình luận về kinh tế chính trị tại London, cho rằng cả Tehran và Washington đều có khả năng trình bày một thỏa thuận như một thành công theo cách riêng của mình. Từ góc độ Iran, bất kỳ sự nhất trí nào cũng có thể được chính quyền nước này coi là một thành tựu trong bối cảnh đối đầu với Mỹ.
Theo ông Salavati, chính quyền Iran vẫn tồn tại, năng lực tên lửa vẫn được duy trì, uranium làm giàu chưa rời khỏi đất nước và Tehran, lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh nổ ra, đã củng cố được đòn bẩy đối với tuyến hàng hải đi vào eo biển Hormuz.
Tehran vì vậy có thể tuyên bố với công chúng trong nước rằng nước này vẫn duy trì được đòn bẩy chiến lược đối với một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới.
Ở chiều ngược lại, Mỹ cũng có thể coi việc giảm căng thẳng tại Hormuz là một kết quả tích cực. Theo ông Salavati, Washington có thể hưởng lợi từ việc giảm áp lực do giá năng lượng tăng mạnh, có thêm thời gian bổ sung kho dự trữ vũ khí và giảm sức ép đối với năng lực sản xuất quốc phòng, đồng thời có thể tuyên bố kết thúc giai đoạn chủ động của cuộc chiến.
Tuy nhiên, Tehran khó có khả năng coi bất kỳ thỏa thuận tạm thời nào về Hormuz là dấu chấm hết cho cuộc đối đầu rộng lớn hơn với Washington. Tổng thống Donald Trump đang chịu sức ép từ các thành viên trong chính đảng của mình tại Quốc hội nhằm chấm dứt xung đột trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11.
Trong khi đó, Oman vẫn chưa đưa ra bình luận công khai về thỏa thuận được cho là đang được đàm phán. Iran khẳng định tiến trình này diễn ra mà không có sự tham gia của Mỹ.
Với vai trò là tuyến huyết mạch vận chuyển năng lượng của thế giới, tương lai của eo biển Hormuz vì thế không chỉ phụ thuộc vào một thỏa thuận song phương giữa Iran và Oman. Khả năng duy trì dòng vận tải ổn định còn phụ thuộc vào mức độ giảm căng thẳng giữa Iran và Mỹ, cơ chế bảo đảm an toàn hàng hải, khả năng xử lý các lệnh trừng phạt và quan trọng hơn là việc các bên có thể tìm được tiếng nói chung về quyền kiểm soát tuyến đường thủy chiến lược này hay không.
Quyết định này được đưa ra chỉ vài tuần trước thềm hội nghị thượng đỉnh dự kiến giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình...
Nhu cầu con chip phục vụ công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) duy trì ở mức cao giúp doanh thu tháng 7 của TSMC tăng mạnh hơn dự báo. Tuy nhiên, giới phân tích cảnh báo doanh thu hàng tháng của ngành bán dẫn có thể biến động lớn…
Kim ngạch thương mại song phương về hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam và Australia hiện đạt khoảng 30 tỷ AUD (tương đương 21 tỷ USD), tăng hơn gấp đôi so với năm 2020. Chính phủ Australia cam kết thúc đẩy đầu tư hai chiều với Việt Nam. VnEconomy đã có cuộc trao đổi với bà Gillian Bird, Đại sứ Australia tại Việt Nam xung quanh dư địa hợp tác giữa hai nước, đặc biệt là các yếu tố mà doanh nghiệp quan tâm khi đầu tư tại Việt Nam.
Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa đưa ra hàng loạt yêu cầu bồi thường đối với Iran, sau khi Tehran tiếp tục đòi Washington bù đắp thiệt hại chiến tranh...
Đến phiên ngày 10/8, đồng yên Nhật Bản đã để mất khoảng một nửa thành quả hồi phục sau cuộc can thiệp tỷ giá chung mang tính lịch sử giữa Mỹ và Nhật Bản...
Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.
Kim ngạch thương mại song phương về hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam và Australia hiện đạt khoảng 30 tỷ AUD (tương đương 21 tỷ USD), tăng hơn gấp đôi so với năm 2020. Chính phủ Australia cam kết thúc đẩy đầu tư hai chiều với Việt Nam. VnEconomy đã có cuộc trao đổi với bà Gillian Bird, Đại sứ Australia tại Việt Nam xung quanh dư địa hợp tác giữa hai nước, đặc biệt là các yếu tố mà doanh nghiệp quan tâm khi đầu tư tại Việt Nam.