
Về pháp lý, đây là số liệu của cơ quan thống kê quốc gia và là cấu phần tạo nên kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước năm 2021 là 336,25 tỷ USD.
Về nội hàm, nó bao gồm kim ngạch xuất khẩu của 9 sản phẩm chính thuộc ba lĩnh vực lớn của nông nghiệp là trồng trọt, lâm nghiệp và thủy sản. Đó là: thủy sản, rau quả, nhân điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, sắn và các sản phẩm sắn, cao su. Tất cả các sản phẩm này chỉ là 27,997 tỷ USD.
Ngoài ra có một số mặt hàng nhỏ lẻ được xuất khẩu nhưng kim ngạch nhỏ, siêu nhỏ góp với nhiều mặt hàng công nghệ, khoáng sản khác cũng nhỏ lẻ được cơ quan thống kê gộp lại trong nhóm “các mặt hàng khác” có kim ngạch xuất khẩu năm 2021 là 14,697 tỷ USD.
Như vậy, nếu cộng thêm con số của nhóm “các mặt hàng khác” vào con số 27,997 tỷ USD thì cũng chưa tới 48,6 tỷ USD.
Tính cả xuất khẩu mặt hàng gỗ thì chưa chuẩn. Đó là sản phẩm cơ bản mang tính chất công nghiệp, được thống kê trong nhóm “Công nghiệp chế biến”, góp phần đưa nhóm này chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, minh chứng cho thành tựu “Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực, bởi nhóm hàng công nghiệp tiếp tục là động lực cho tăng trưởng xuất khẩu”.
Với mặt hàng gỗ, “hàm lượng” nông nghiệp chỉ “dính dáng” khi là gỗ nguyên liệu tự nhiên, nhưng Việt Nam hiện đã phải đóng cửa rừng, nguyên liệu để sản xuất sản phẩm gỗ hầu như phải nhập khẩu. Hơn nữa, trong kim ngạch xuất khẩu gỗ thì gần một nửa là của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thể gộp vào kết quả chung nhưng phải minh bạch đó là thành tích của người ngoài.
Từ kim ngạch xuất khẩu như trên, ngành nông nghiệp thường đưa ra con số xuất siêu khá ấn tượng. Một nước có nền văn minh lúa nước, rừng vàng, biển bạc, việc nông nghiệp xuất siêu lớn là đương nhiên. Song ở Việt Nam, từ sản xuất đến xuất khẩu nhóm hàng này chưa mấy khi “xuôi chèo mát mái”. Nguyên nhân do thiên tai, dịch họa, nhưng tại mình cũng có, là hệ quả của chuỗi mù mờ.
Đó là, nông dân mù mờ về nhu cầu thị trường, tiêu thụ, sản lượng, quy chuẩn chất lượng, dựa trên thông tin loáng thoáng, truyền miệng. Nhà kinh doanh mù mờ về nơi sản xuất, khiến việc kết nối tiêu thụ gặp nhiều khó khăn. Người tiêu dùng mù mờ về nguồn gốc xuất xứ, về an toàn vệ sinh thực phẩm. Doanh nghiệp tiêu thụ mù mờ về sản lượng cho đến thời điểm thu hoạch. Cơ quan quản lý chuyên ngành các cấp mù mờ về thông tin mùa vụ, về nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Chẳng những thế, Việt Nam đã từng và còn phải nhập khẩu nhiều nông phẩm. Năm 2021, 10 mặt hàng thuộc nhóm “hàng cần nhập khẩu” là: thủy sản nguyên liệu; hạt điều thô; lúa mỳ; ngô; đậu tương; sữa và sản phẩm từ sữa; dầu mỡ thực vật; thức ăn gia súc và nguyên liệu; nguyên phụ liệu thuốc lá; cao su các loại và sản phẩm cao su. Tổng số tiền chi ra để nhập khẩu các mặt hàng này đã lên tới 22,275 tỷ USD.
Cụ thể như mặt hàng cao su, trong năm 2021 xuất khẩu được 3,313 tỷ USD, nhưng phải chi tới 4,019 tỷ USD để nhập khẩu cao su các loại và sản phẩm cao su.
Tương tự như phần thống kê xuất khẩu, ta cũng nhập khẩu khá nhiều các mặt hàng nhỏ lẻ như thịt và phụ phẩm gia súc, gia cầm từ châu Â, Mỹ, Úc, Nhật Bản, đường kính từ Thái Lan. Cuối năm 2021, rộ lên nhập khẩu một số nông phẩm từ Campuchia cùng với nhiều mặt hàng công nghệ, khoáng sản lắt nhắt khác gộp vào nhóm “các mặt hàng khác”, năm 2021 nhập khẩu 16,848 tỷ USD.
Với lối canh tác hiện thời “dùng chất vô cơ cho rảnh tay”, hàng năm và riêng năm 2021 nhập khẩu phân bón hóa học, thuốc trừ sâu tới 2,386 tỷ USD. Chưa kể hàng năm phải nhập khẩu máy móc, phụ tùng, xăng dầu… tới hàng tỷ USD, trong đó phần phục vụ cho nông nghiệp không ít.
Như vậy, lấy kết quả xuất khẩu trừ đi các khoản phải nhập khẩu nêu trên thì thặng dư thực sự từ nông, lâm, ngư nghiệp là rất ít. Chỉ cần vụ ách tắc tại cửa khẩu Lạng Sơn cuối năm 2021 đã xóa sổ nhiều nỗ lực.
Hơn nữa, theo các Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam phải ưu đãi thuế nhập khẩu cho các đối tác. Thừa cơ này, nông phẩm từ các nước với phẩm chất tốt, mẫu mã đẹp, giá phải chăng, người tiêu dùng Việt đã bén duyên… sẽ tràn vào Việt Nam, thách thức nông phẩm nội.
Mở cửa, hội nhập nông nghiệp sẽ là ngành chịu nhiều tổn thương, sản phẩm chăn nuôi sẽ hứng trước. Nếu nông nghiệp không bứt phá mạnh mẽ, cán cân thương mại có thể sẽ ngả ra bên ngoài.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.