Đây là phát hiện quan trọng từ báo cáo nghiên cứu “Hướng tới nông nghiệp bền vững: Thực hành khung ESG (Môi trường- Xã hội- Quản trị) và tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong chuỗi giá trị nông nghiệp” được Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững (MSD), phối hợp với Oxfam tại Việt Nam và Fair Finance Asia vừa công bố.
Báo cáo được thực hiện thông qua khảo sát 97 doanh nghiệp và hợp tác xã trong chuỗi giá trị nông nghiệp, kết hợp với phỏng vấn sâu các chuyên gia và bên liên quan, nhằm đánh giá thực trạng thực hành ESG và khả năng tiếp cận tài chính bền vững của các tác nhân nhỏ và vừa trong ngành.
Theo kết quả nghiên cứu, thực hành ESG của các hợp tác xã và doanh nghiệp trong khảo sát không đồng đều giữa các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị. Trong đó, các yếu tố môi trường và xã hội thường được thực hành nhiều hơn, trong khi các yếu tố quản trị còn hạn chế.
Điều này cho thấy thực hành ESG trong nhiều trường hợp vẫn mang tính phản ứng trước yêu cầu của thị trường hoặc chính sách, thay vì xuất phát từ chiến lược phát triển nội tại của doanh nghiệp.
Chia sẻ về nhận thực và thực hành nông nghiệp theo ESG, bà Hoàng Thu Trang, đại diện nhóm nghiên cứu cho biết hiểu biết và thực hành ESG của các hợp tác xã và doanh nghiệp trong khảo sát có sự khác nhau trong từng yếu tố E, S, G. Tính "xu hướng thời vụ" và mang tính bị động do áp lực, yêu cầu chủ yếu đến từ các yếu tố bên ngoài như thị trường, chính sách thay vì sự chủ động từ chính bản thân đơn vị.
Có 52/97 (54%) đơn vị tham gia ít nhất một loại chứng nhận nông nghiệp bền vững trong nước hoặc quốc tế. Về các yếu tố tác động thực hành ESG trong các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, báo cáo nhận thấy chủ yếu do áp lực từ thị trường nhập khẩu (như café, thủy sản…); chính sách trong nước về phát triển bền vững ngành; Vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp đầu chuỗi cùng với chia sẻ trách nhiệm; Lợi ích kinh tế trực tiếp gắn với thực hành ESG…
Về tiếp cận tài chính bền vững, một trong những phát hiện quan trọng của báo cáo là tài chính xanh vẫn chưa tiếp cận được nhóm hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ.
Bà Trang thông tin: khảo sát trên 97 hợp tác xã và doanh nghiệp cho thấy, dù 54% đơn vị đã tham gia ít nhất một chứng nhận nông nghiệp bền vững, 32/97 đơn vị có chứng nhận nông nghiệp bền vững quốc tế nhưng chỉ có duy nhất 1 đơn vị tiếp cận được nguồn tài chính xanh.
Nguồn vốn mà các tác nhân là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã nông nghiệp đang sử dụng chủ yếu vẫn đến từ tín dụng truyền thống (57%) và vay từ người thân (55%), phản ánh khoảng cách lớn giữa thực hành bền vững và khả năng tiếp cận tài chính phù hợp.
Các chuyên gia nghiên cứu chỉ ra rằng rào cản không nằm ở việc thiếu thực hành ESG, mà chủ yếu đến từ các điều kiện tín dụng truyền thống như yêu cầu tài sản bảo đảm, năng lực xây dựng phương án kinh doanh và hệ thống quản trị của doanh nghiệp. Đồng thời, khoảng 80% đơn vị cho biết chưa từng tiếp cận thông tin về tín dụng xanh, cho thấy hạn chế lớn về thông tin và kết nối thị trường tài chính .
Một điểm đáng chú ý khác là dòng vốn tài chính xanh hiện vẫn tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp quy mô lớn hoặc các dự án đã đạt tiêu chuẩn sẵn có, trong khi các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ – nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp vẫn đứng ngoài dòng vốn này.
Nhìn nhận thực tế này, bà Nguyễn Phương Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững (MSD) nhận xét phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp đã thực hành ESG, nhưng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức, mà ở năng lực thực thi và khả năng chuyển hóa các thực hành này thành chuyển đổi hiệu quả và thực chất.
Ngoài ra, một nghịch lý đang tồn tại là những doanh nghiệp làm tốt hơn chưa chắc tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ phù hợp, bao gồm tài chính bền vững.
Do đó, bà Linh cho rằng nếu không giải quyết nghịch lý này bằng một cách tiếp cận hệ sinh thái, ESG sẽ khó tạo ra tác động trên diện rộng.
Cũng theo lãnh đạo Viện MSD, ESG là yêu cầu tất yếu, yếu tố sống còn với các doanh nghiệp để được lựa chọn tham gia vào những “cuộc chơi” lớn, chuỗi giá trị toàn cầu. Chính vì thế ESG phải được tích hợp vào mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp.
Riêng với các doanh nghiệp nông nghiệp, không chỉ đối mặt với những ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, hạn chế nguồn lực, mà còn phải đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thị trường xuất khẩu và người tiêu dùng.
Chia sẻ điều này, bà Nguyễn Thu Hương, Quản lý Chương trình cấp cao của Oxfam tại Việt Nam, nhấn mạnh xu hướng chuyển đổi tất yếu của nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam.
Qua báo cáo cho thấy vai trò quan trọng của tài chính như một đòn bẩy để định hướng dẫn dắt và thúc đẩy quá trình chuyển đổi nông nghiệp xanh thông qua các công cụ như tín dụng xanh.
Bà Hương cũng chỉ rõ xu hướng quốc tế cho thấy xu hướng ESG đã được luật hóa ở một số nước như quy định chống phá rừng; cơ chế CBAM của EU quy định giảm phát thải thông qua áp thuế carbon lên các mặt hàng nhập khẩu; Chỉ thị về Trách nhiệm Xã hội Doanh nghiệp (CSRD)…Một số mặt hàng trong lĩnh vực như công nghiệp và nông nghiệp của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường như châu Âu sẽ phải tuân thủ các quy định này.
Việc thực thi áp dụng ESG là yêu cầu tất yếu để Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, giúp tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc,
Các chuyên gia cho rằng với các doanh nghiệp lĩnh vực nông nghiệp, việc thực hành ESG, tiếp cận các nguồn lực tài chính xanh là một trong những yếu tố quan trọng để tạo sự bứt phá phát triển nông nghiệp xanh, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh của Việt Nam.
Trong 1- 3 năm tới, nhu cầu về tài chính bền vững trong nông nghiệp dự kiến sẽ gia tăng, đặc biệt cho các hoạt động như canh tác bền vững, kinh tế tuần hoàn và đáp ứng các tiêu chuẩn, chứng nhận nông nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu cần rà soát và tháo gỡ các nút thắt trong tiếp cận vốn, nhằm đảm bảo các chính sách tín dụng xanh và tín dụng nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả trong thực tế.
Theo chuyên gia, việc thiết kế các công cụ tài chính phù hợp với đặc thù của hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong ngành sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thực hành ESG theo hướng dài hạn và thực chất hơn.
Giảm phát thải khí nhà kính không chỉ là việc tuân thủ quy định mà còn là yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp để tăng năng lực cạnh. Các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu giảm phát thải không chỉ giảm thiểu rủi ro, mà còn tăng doanh thu, mở rộng lợi nhuận và nâng cao giá trị. Khi doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm có hệ số phát thải thấp hơn sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, thậm chí có thể tạo ra các cơ hội kinh doanh mới, có thêm khách hàng mới…
Các đợt nắng nóng kỷ lục đang diễn ra không chỉ trở thành vấn đề môi trường mà còn là thách thức ngày càng lớn với thị trường lao động và tăng trưởng kinh tế của châu Âu. Từ nông nghiệp, xây dựng đến sản xuất, vận tải và năng lượng, nhiều ngành kinh tế đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm năng suất, gia tăng chi phí và rủi ro mất an toàn lao động khi nhiệt độ liên tục lập những mức cao mới…
Làn sóng nắng nóng kỷ lục tại châu Âu đang tạo ra cú hích bất ngờ cho các nhà sản xuất điều hòa Trung Quốc...
Chỉ còn vài tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) chính thức có hiệu lực đối với phần lớn doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ sở dữ liệu và hệ thống truy xuất nguồn gốc nhằm hỗ trợ ngành cao su đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường EU...
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.