
Năm nay, Mỹ phẩm Sài Gòn s
ẽ
thực hiện chiến lược xây dựng chuỗi cửa hàng cao cấp. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi của chúng tôi với bà Nguyễn Kim Thoa, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty.
Mỹ phẩm Sài Gòn
đang
thực hiện chiến lược xây dựng chuỗi cửa hàng cao cấp. Xin bà cho biết chiến lược này được triển khai như thế nào?
Bắt đầu từ đầu năm, chúng tôi đã triển khai chiến lược xây dựng chuỗi cửa hàng cao cấp với tên gọi là SC Perfume tại khắp các tỉnh, thành mục tiêu của công ty bao gồm cả miền Bắc như Hà Nội.
Đây là những cửa hàng được thiết kế theo phong cách mới, hiện đại với mục đích tạo hình ảnh mới cho sản phẩm của công ty.
Tuy nhiên, chuỗi cửa hàng này tập trung nhiều ở khu vực phía Nam, đặc biệt là khu vực miền Tây.
Từ đầu năm đến nay, chúng tôi đã mở được 6 cửa hàng SC Perfume ở Tp.HCM, Tiền Giang, An Giang và Cà Mau.
Mục tiêu của Mỹ phẩm Sài Gòn trong 2007 và 2008 sẽ mở khoảng 40 cửa hàng SC Perfume với tổng kinh phí cho chiến lược xây dựng chuỗi cửa hàng là 10 tỷ đồng, trung bình một cửa hàng khoảng 200 triệu đồng.
Mỹ phẩm Sài Gòn lâu nay vẫn tập trung nhiều vào khu vực thị trường trung cấp. Chúng tôi muốn thay đổi hình ảnh của công ty và hướng vào thị trường cao cấp.
SC Perfume phục vụ cho đối tượng khách hàng từ trung cấp trở lên với những sản phẩm quen thuộc bao gồm cho cả khách hàng nam, nữ và gia đình. Chúng tôi cũng muốn nhắm đến những sản phẩm thay thế hàng ngoại nhập để sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước.
Với chiến lược xây dựng chuỗi cửa hàng cao cấp như thế, công ty kỳ vọng gì từ chiến lược này thưa bà?
Xây dựng chuỗi cửa hàng mới, chúng tôi kỳ vọng sẽ tạo ra hình ảnh mới cho Mỹ phẩm Sài Gòn, tạo ra hệ thống nhận diện mới cho sản phẩm của Công ty.
Đây cũng là hình thức chúng tôi muốn quảng bá hình ảnh cho Mỹ phẩm Sài Gòn gần gũi với người tiêu dùng.
Mỹ phẩm Sài Gòn có thời gian tham gia vào lĩnh vực mỹ phẩm từ nhiều năm qua và chính thức trở thành công ty cổ phần từ 2000.
Sản phẩm của Công ty bao gồm mỹ phẩm và chất tẩy rửa, nước hoa, dầu gội đầu, sữa tắm, xà bông thơm, nước hoa xịt phòng, gel rửa tay, nước rửa kính...
Doanh thu của Công ty năm 2006 đạt 145 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ lệ nước hoa trung và cao cấp của Mỹ phẩm Sài Gòn như Miss Saigon Elegance, Cindy, Zeus... đã tăng 40% so với cùng kỳ.
Bên cạnh cung cấp các sản phẩm mỹ phẩm cho thị trường nội địa, Công ty chúng tôi cũng xuất khẩu sang thị trường các nước như Trung Quốc, Nga, Campuchia, Philippines, Nam Phi, Mỹ, Nhật...
Kim ngạch xuất khẩu của Công ty chiếm khoảng 42% trong tổng doanh thu hàng năm của Công ty.
Gần đây có rất nhiều hãng mỹ phẩm nước ngoài vào Việt Nam. Sự xuất hiện của những hãng này tạo sức ép gì đối với Công ty, thưa bà?
Nền kinh tế hội nhập thu hút nhiều công ty nước ngoài vào đầu tư và làm ăn tại Việt Nam. Điều này tạo ra những cuộc cạnh khốc liệt giữa các công ty.
Để có thể tồn tại các công ty cần phải thiết lập chiến lược kinh doanh và thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người tiêu dùng. Công ty chúng tôi cũng vậy.
Xây dựng chuỗi cửa hàng cao cấp là một trong những chiến lược kinh doanh của chúng tôi bên cạnh chính sách về chất lượng và giá cả. Mỹ phẩm Sài Gòn lâu nay có thế mạnh về thị trường đại chúng.
Những cuộc khảo sát cho thấy, sản phẩm của Công ty chiếm một tỷ lệ khá lớn trong thị trường này mặc dù có nhiều nhãn hiệu nước ngoài khác đang có mặt tại Việt Nam và cũng nhắm vào phân khúc đại chúng.
Ngoài ra, thị trường này đã có sự thay đổi đáng kể trong chi tiêu cho mỹ phẩm. Trước đây người tiêu dùng trong phân phúc này chỉ quan tâm đến giá cả và họ thường lựa chọn sản phẩm giá thấp nhưng bây giờ họ đã bắt đầu quan tâm đến sản phẩm chất lượng cao hơn cho dù giá có cao hơn trước.
Kế hoạch phát triển tương lai của Công ty như thế nào? Liệu Mỹ phẩm Sài Gòn có ý định liên kết với nước ngoài để đầu tư sản xuất sản phẩm mới?
Chúng tôi đang có kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán vào cuối năm nay và tham gia lĩnh vực kinh doanh spa, chăm sóc sức khỏe cho khách hàng.
Ngoài ra, chúng tôi có kế hoạch liên kết với nước ngoài đầu tư sản phẩm mới cung cấp cho thị trường trong nước và có thể xuất khẩu. Hiện tại, chúng tôi đang nghiên cứu một số đối tác nước ngoài cho thực hiện chương trình liên kết.
Thực sự chúng tôi chưa quyết định đối tác nào hay sản phẩm gì, sản phẩm mới hoàn toàn hay sản xuất sản phẩm của đối tác tại Việt Nam.
Tuy nhiên, việc liên kết với nước ngoài là cơ hội để chúng tôi học tập kinh nghiệm, kỹ thuật và chuyên môn để phát triển. Đó cũng là phương cách tốt trong thời kỳ hội nhập.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.