Ngày 2/2/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 208/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thống kê, đánh giá tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội (Đề án).
Đề án nhằm xây dựng Bộ chỉ tiêu và phương pháp thống kê công nghệ sinh học; tổ chức thu thập thông tin; hoàn thiện và vận hành ổn định hệ thống thống kê về công nghệ sinh học, bảo đảm xác định và theo dõi định kỳ tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, làm cơ sở đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.
Theo Đề án, năm 2026, nghiên cứu phương pháp luận và kinh nghiệm quốc tế về thống kê, đánh giá tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học; xây dựng Danh mục các hoạt động kinh tế phản ánh phạm vi, quy mô ứng dụng công nghệ sinh học.
Năm 2027, xây dựng các chỉ tiêu, phương án điều tra và tổ chức điều tra thử nghiệm, thu thập thông tin, dữ liệu về đóng góp của công nghệ sinh học trong một số ngành kinh tế. Trên cơ sở đó chuẩn hóa bộ chỉ tiêu và phương án điều tra.
Năm 2028, ban hành bộ chỉ tiêu và phương pháp thống kê tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
Từ năm 2029 trở đi, tiến hành điều tra, khảo sát định kỳ trên phạm vi toàn quốc để thu thập số liệu và tiến hành thống kê, đo lường tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
Từ năm 2030, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê về công nghệ sinh học, bảo đảm xác định và theo dõi định kỳ tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, làm cơ sở đánh giá, chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học đến năm 2045 tại Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Để đạt được mục tiêu, Đề án đặt ra 8 nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có nghiên cứu phương pháp luận và kinh nghiệm quốc tế về thống kê, đánh giá tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
Khảo sát, xác định phạm vi, quy mô ứng dụng công nghệ sinh học trong các ngành kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, môi trường, công nghiệp, y tế và các ngành, lĩnh vực khác có ứng dụng công nghệ sinh học. Xây dựng Danh mục các hoạt động kinh tế phản ánh phạm vi, quy mô ứng dụng công nghệ sinh học đáp ứng các yêu cầu về tính hệ thống, bao quát, cập nhật; không trùng lặp hoặc bỏ sót; đồng thời phù hợp với Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam;
Xây dựng bộ chỉ tiêu và phương pháp thống kê, đánh giá tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học. Tổ chức điều tra, khảo sát định kỳ trên phạm vi cả nước để thu thập số liệu phục vụ thống kê, đo lường tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.
Xây dựng nền tảng số phục vụ quản lý, chia sẻ, khai thác, sử dụng dữ liệu thống kê công nghệ sinh học. Quy định quyền và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân có hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học trong việc cung cấp, sử dụng dữ liệu thống kê công nghệ sinh học. Khuyến khích khu vực tư nhân đóng góp dữ liệu vào nền tảng số về thống kê công nghệ sinh học.
Đề án cũng nêu rõ việc ứng dụng công nghệ phục vụ phân tích, đánh giá và báo cáo kết quả thống kê tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học đối với phát triển kinh tế- xã hội trên cơ sở các dữ liệu thu thập được. Tính toán tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học vào GDP (cả trực tiếp và gián tiếp), đồng thời đánh giá tác động lan tỏa đến các ngành, lĩnh vực khác.
Cộng đồng Hiệu quả năng lượng Việt Nam, thuộc Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 (VNEEP3) đã từng bước trở thành diễn đàn kết nối, chia sẻ tri thức, lan tỏa các mô hình, giải pháp và kinh nghiệm thực tiễn, góp phần thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sử dụng năng lượng trong công nghiệp...
Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển bền vững...
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, phát triển bền vững và các tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng định hình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tại Việt Nam, chuyển đổi xanh đang dần trở thành yêu cầu thiết yếu đối với doanh nghiệp, trong đó cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đứng trước cả cơ hội và thách thức trong quá trình thích ứng.
Các khoản đầu tư mới của ACIAR (trị giá 3,3 triệu đô la Úc) hỗ trợ cộng đồng ven biển và ven sông của Việt Nam nâng cao sinh kế, thích ứng với biến đổi khí hậu và hòa nhập xã hội...
Trong gian đoạn từ 2026-2030, Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tổ chức giám sát thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường đối với cơ sở có công suất lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Lần đầu tiên trong luật pháp Việt Nam có một khái niệm, triết lý trong thiết kế luật, đó là chuỗi - dự án theo chuỗi đồng bộ các hạng mục công trình trên biển, đất liền, từ thượng nguồn tới hạ nguồn. Đó là chia sẻ từ ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khi nhắc đến Luật Dầu khí (sửa đổi) 2026.