
Nhiều giống cây trồng được tạo ra bằng công nghệ sinh học đã có mặt ở Việt Nam, giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập nhờ việc tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật
Đó là nhận định của ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam tại hội thảo với chủ đề "Đóng góp của việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp tại Việt Nam" do Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam và CropLife đồng tổ chức chiều 7/4.
LỢI NHUẬN TĂNG 4,5 – 7,6 TRIỆU ĐỒNG/HA
Theo báo cáo của Tổ chức Quốc tế về Tiếp thu các Ứng dụng Công nghệ Sinh học trong Nông nghiệp (ISAAA), ước tính đã có khoảng 1,95 tỷ người, tương đương với 26% dân số thế giới được hưởng lợi từ công nghệ sinh học .
Tiến sỹ Rhodora R. Aldemita, Giám đốc khu vực Đông Nam Á kiêm Giám đốc Trung tâm Kiến thức toàn cầu về công nghệ sinh học của ISAAA, cho biết năm 2019, tổng cộng có 190,4 triệu ha cây trồng công nghệ sinh học được canh tác trên toàn thế giới. Trong đó, Việt Nam là một trong 3 nước có tốc độ tăng trưởng diện tích trồng cây công nghệ sinh học đạt đến hai con số cùng với Philippines và Colombia.
Tiến sỹ Graham Brookes – Viện PG Economic đã dẫn chứng các số liệu trong nghiên cứu gần nhất phát hành năm 2020 cho thấy, tính đến năm 2018, tổng thu nhập gia tăng dành cho nông dân canh tác cây trồng công nghệ sinh học trên thế giới là 19 tỷ USD. Bên cạnh đó, bình quân mỗi năm, cây trồng công nghệ sinh học cũng giúp hạn chế tổng lượng CO2 thải ra môi trường khoảng 23 tỷ kilogram, đồng thời giúp giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Tại Việt Nam, cây trồng công nghệ sinh học đã được chính thức được cấp phép canh tác thương mại từ năm 2014-2015 trên cây ngô. Vào năm 2015, tỷ lệ ứng dụng ngô công nghệ sinh học còn khiêm tốn khoảng 3.500 ha chiếm chưa tới 1% tổng diện tích; tới nay diện tích ứng dụng đã tăng hơn 26 lần.
Tính đến năm 2018, tổng thu nhập gia tăng dành cho nông dân canh tác cây trồng công nghệ sinh học trên thế giới là 19 tỷ USD.
Trong năm 2020, Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam phối hợp với Viện PG Economics (Anh Quốc) đã tiến hành một nghiên cứu đánh giá và phân tích tác động của cây ngô công nghệ sinh học tại Việt Nam sau 5 năm canh tác.
Kết quả cho thấy, tổng diện tích ngô công nghệ sinh học canh tác tại Việt Nam cho cả giai đoạn 2015 – 2019 là 225.000 ha. Năng suất thu hoạch được của các giống ngô công nghệ sinh học với các tính trạng kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ cao hơn so với các giống ngô lai thường từ 15,2% tới 30%.
Lợi nhuận canh tác có được từ việc trồng các giống ngô công nghệ sinh học cũng gia tăng với mức từ 196 USD/ha cho tới 330 USD/ha (tương đương với khoảng 4,5 cho tới 7,6 triệu đồng/ha). Tổng thu nhập tích luỹ tăng thêm khi ứng dụng ngô công nghệ sinh học tính trên cả nước là từ 43.8 cho tới 74.1 triệu USD (tương đương với 1.007 tới 1.704 tỷ đồng).
Về tỷ suất đầu tư, trung bình với mỗi 1 USD (khoảng 23.000 đồng) đầu tư thêm cho hạt giống công nghệ sinh học, nông dân sẽ có lợi nhuận gia tăng từ 6,84 USD và 12,55 USD (tương đương với khoảng 157.000 tới 289.999 đồng). Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng khi canh tác ngô công nghệ sinh học giảm đáng kể: với thuốc từ cỏ là 26% và thuốc trừ sâu là 78%.
KHÓ CẠNH TRANH VỚI NGÔ NHẬP KHẨU
Sau 6 năm đưa vào canh tác đại trà tại Việt Nam, lợi nhuận từ trồng các giống ngô công nghệ sinh học đã tăng khoảng 200 USD-330 USD/ha. Thế nhưng, sự gia tăng lợi nhuận này chưa đủ tạo hứng thú cho nông dân trồng ngô.
Chia sẻ tại hội thảo, nông dân Hoàng Trọng Ngãi ở xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Phú Thọ, cho biết "Tôi và bà con tại xã Đức Bác canh tác hơn 120 ha ngô công nghệ sinh học. Chúng tôi lựa chọn trồng giống ngô công nghệ sinh học do những đặc tính tốt mà chúng mang lại, thứ nhất là kháng được sâu bệnh, hai là khả năng chống chịu tốt với điều kiện thiên nhiên, thời tiết bất thuận".
Ông Nguyễn Thanh Phong, nông dân trồng ngô tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, thông tin thêm các giống ngô công nghệ sinh học đã giúp kháng các loại sâu lên tới 95%, trong khi đối với các giống ngô thường, đặc biệt vào điều kiện nhiệt độ cao như tại Nghệ An thì sâu phá hoại gần như toàn bộ, dẫn đến không còn thu hoạch. Nhờ vào việc không phải phun thuốc trừ sâu, gia đình tôi tiết kiệm được chi phí mua thuốc, chi phí phun thuốc.
Theo ông Trần Xuân Định, tỷ lệ ứng dụng các giống ngô công nghệ sinh học tuy tăng, nhưng hiện chưa đạt như kỳ vọng. Nhu cầu sử dụng ngô cho ngành chăn nuôi tăng nhanh mỗi năm nhưng diện tích trồng ngô trong nước 5 năm trở lại đây có xu hướng giảm.
"Ngô trong nước đang phải chịu áp lực rất lớn từ ngô hạt nhập khẩu cả về giá và về chất lượng, nông dân nhiều vùng đã chuyển sang các cây trồng khác khi lợi nhuận thu được từ canh tác ngô không cao, đặc biệt khi giá thu mua trong nước giảm mạnh. Điều này cho thấy, lợi nhuận ngô công nghệ sinh học tăng so với ngô thông thường, nhưng vẫn chưa đủ sức hấp dẫn nông dân trồng ngô", ông Trần Xuân Định nói.
Ngô trong nước đang phải chịu áp lực rất lớn từ ngô hạt nhập khẩu cả về giá và về chất lượng, nông dân nhiều vùng đã chuyển sang các cây trồng khác khi lợi nhuận thu được từ canh tác ngô không cao
Ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, nhấn mạnh trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chính sách về ứng dụng cây trồng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, hướng tới đảm bảo an ninh lương thực, phát triển bền vững…
Theo Quyết định số 429/QĐ-TTg ban hành ngày 24/3 vừa qua về việc phê duyệt Đề án phát triển công nghệ sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030, một trong các mục tiêu tới năm 2030 đó là Việt Nam có thể làm chủ được một số công nghệ sinh học thế hệ mới, tạo ra sản phẩm quy mô nông nghiệp ứng dụng thực tiễn sản xuất và phát triển số lượng doanh nghệp công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng thêm tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021-2025.
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Hệ thống cảnh báo nhanh của Liên minh châu Âu (RASFF) ghi nhận 10 trường hợp nông, thủy sản Việt Nam vi phạm quy định an toàn thực phẩm trong tháng 7 và tháng 8/2026, đặt ra yêu cầu cấp thiết về siết chặt kiểm soát chất lượng xuất khẩu...
Sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ do quy mô sản xuất nhỏ, chất lượng và sản lượng chưa đồng đều, chi phí lưu thông cao, năng lực nắm bắt nhu cầu tiêu dùng còn hạn chế, chưa tiếp cận thường xuyên các hệ thống phân phối…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.