
Có tốc độ tăng trưởng 16-17%/năm, có quy mô thị trường trên 1 tỷ USD, nhưng ngành dược Việt Nam lại có nhiều yếu điểm.
Ngày 25/4, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã chủ trì Hội nghị ngành dược 2008 với mục tiêu tìm kiếm các giải pháp quân bình cung-cầu để ổn định thị trường dược phẩm Việt Nam cũng như phát triển công nghiệp dược trong thời gian tới.
Báo cáo của Bộ Y tế cho biết, trong giai đoạn 2003-2007, thị trường dược phẩm Việt Nam tăng trưởng với tốc độ 16-17%/năm và đạt quy mô 1,136 tỷ USD vào năm 2007, dự kiến, năm 2008 sẽ đạt 1,34 tỷ USD.
Công tác sản xuất dược trong nước đã đảm bảo đáp ứng 55% nhu cầu tiêu dùng thuốc trong nước, đồng thời triển khai quản lý chất lượng thuốc toàn diện theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và các nước trong khu vực.
Ngành công nghiệp dược nội địa đã có sự tiến bộ đáng kể khi đáp ứng trên 50% nhu cầu thuốc dự phòng và điều trị bệnh cho người dân cho dù 90% nguyên liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Những năm gần đây, các doanh nghiệp đã có nhiều điều kiện thuận lợi để đầu tư, đổi mới dây chuyền, thiết bị công nghệ bào chế thuốc, sản xuất nhượng quyền các loại thuốc biệt dược..., đã đa dạng hóa chủng loại, số lượng thuốc đặc biệt là nhóm thuốc dung dịch tiêm, kháng sinh, bột đông khô...
Trong số 1.500 hoạt chất có trong các thuốc đã đăng ký thì các doanh nghiệp dược trong nước đã có thể bào chế được 773 hoạt chất.
Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nhu cầu sử dụng thuốc điều trị, ngành dược Việt Nam đứng trước rất nhiều thách thức liên quan đến việc phát triển các công nghệ bào chế thuốc tiên tiến, đảm bảo số lượng, chất lượng thuốc khi phân phối đến người tiêu dùng, đặc biệt là duy trì sự bình ổn của thị trường dược phẩm.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu nêu thực trạng là việc phát triển của các doanh nghiệp dược vừa tự phát, manh mún lại trùng lắp thiếu định hướng vĩ mô nên thị trường thuốc thừa những loại thuốc thông thường nhưng lại quá thiếu các loại thuốc có dạng bào chế đặc biệt, thuốc chuyên khoa đặc trị. Dù có quy mô thị trường vượt quá 1 tỷ USD nhưng chúng ta vẫn chưa có một trung tâm nghiên cứu dược quốc gia, nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn.
Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cho biết thêm, trong 93 doanh nghiệp sản xuất tân dược hiện nay chỉ có 77 đơn vị đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP), còn toàn bộ 78 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược chưa đạt. Và để đạt mục tiêu đến ngày 30/6/2008 tất cả các doanh nghiệp sản xuất thuốc phải đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc là rất khó khăn.
Các doanh nghiệp sản xuất tân dược lại phân bố không đều trên toàn quốc, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (72), sau đó đến vùng Đồng bằng sông Hồng (57), sông Cửu Long (19), vùng Tây Bắc và Đông Bắc Bộ chỉ có 7 doanh nghiệp sản xuất thuốc và chưa có nhà máy nào đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc.
Trong khi đó, những yếu tố cơ bản để phát triển ngành công nghiệp dược hiện nay đều ít được quan tâm đầu tư về kinh phí, phối hợp bộ ngành, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy để các doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý triển khai các dự án cụ thể.
Trong các kiến nghị với Chính phủ, Thứ trưởng Cao Minh Quang đã nêu ra hàng loạt các giải pháp đồng bộ liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, nguyên liệu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp hoá dược trong nước, quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới lưu thông, phân phối thuốc....
Cụ thể là việc đẩy nhanh công tác xây dựng, triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam; chương trình về phát triển và sắp xếp, tổ chức mạng lưới lưu thông thuốc đến 2015 tầm nhìn 2020... với ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp hoá dược, công nghiệp bào chế, công nghiệp dược liệu, công nghiệp bao bì, đào tạo nhân lực phục vụ cho ngành công nghiệp dược...
Phát biểu tại hội nghị Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đề nghị, ngành dược cần tận dụng tối đa lợi thế của Việt Nam là một nước có vùng nguyên liệu sinh thái đa dạng; nguồn lao động rẻ, được đào tạo cơ bản tốt; nhu cầu thị trường lớn với hơn 85 triệu dân, công nghiệp cơ khí đang phát triển... để đẩy mạnh công nghiệp phụ trợ nhằm đưa công nghiệp dược tăng tốc phát triển trong tương lai.
Bộ Y tế phải khẩn trương quy hoạch hệ thống các cơ sở sản xuất, vùng nguyên liệu gắn liền với xúc tiến đầu tư, quy hoạch hệ thống phân phối, hệ thống kiểm tra, giám sát về giá, chất lượng, tính cạnh tranh.
Đồng thời, việc xây dựng các chương trình, đề án liên quan đến phát triển ngành dược phải tính đến chỉ tiêu hiệu quả trong kinh doanh của các doanh nghiệp, phân tích rõ sự phân bổ giá trị gia tăng từ khi nhập sản phẩm đến tay người tiêu dùng để trên cơ sở đó giúp doanh nghiệp định hướng mục tiêu phát triển.
Nhà nước sẽ hỗ trợ, giúp đỡ trong việc tập hợp thông tin để định hướng về tiềm năng thị trường cho doanh nghiệp dược phát triển để ngành y tế có thể đạt được mục tiêu đến năm 2015, giá trị thuốc sản xuất trong nước chiếm 70% tổng giá trị thuốc sử dụng và đến năm 2020 con số này là 80%.
Ngoài ra, Bộ Y tế cần thống kê số nhân lực còn thiếu trong ngành dược để đặt hàng Bộ Giáo dục đào tạo nguồn lực, đáp ứng nhu cầu thực tế. Phó Thủ tướng yêu cầu, ngành dược cần lựa chọn một vài sản phẩm chế biến từ dược liệu trong nước để xây dựng các sản phẩm mang tính chất quốc gia, sau đó sản xuất với quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, tiến tới xuất khẩu.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.