
Thông tư số 11/2025 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện có hiệu lực từ đầu tháng 7.
Thông tư quy định trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trước ngày 1/1/2021, có từ đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện trở lên, đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành (tức 1/7/2025), và không tiếp tục đóng kể từ ngày này, nếu có nguyện vọng thì được hưởng lương hưu từ 1/7/2025.
Như vậy, so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019, những người này được về hưu sớm hơn 2 - 5 năm so với người tham gia sau ngày 1/1/2021.
Theo Bộ luật Lao động năm 2019, từ năm 2021 trở đi, tuổi nghỉ hưu tăng theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với nam vào năm 2028, và đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035.
Chỉ những trường hợp lao động làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; hoặc những người lao động sức khỏe yếu (bị suy giảm khả năng lao động), mới có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với người làm việc trong điều kiện lao động bình thường (nghỉ hưu sớm hơn tối đa 5 hoặc 10 tuổi tùy từng trường hợp).
Bên cạnh đó, Thông tư số 11 của Bộ Nội vụ cũng hướng dẫn các trường hợp cụ thể về thời điểm được hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Hưởng lương hưu ngay sau khi đủ điều kiện, bao gồm 2 trường hợp: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên; Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trước ngày 1/1/2021, và đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện trở lên thì được hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ.
Với nhóm trên, thời điểm hưởng lương hưu được tính từ ngày đầu tiên của tháng liền kề, sau tháng đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội sau khi đủ điều kiện: Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu, thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng dừng đóng, và có yêu cầu hưởng lương hưu.
Đang đóng theo kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, hoặc một lần cho nhiều năm về sau: Nếu đang đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo kỳ hạn, hoặc một lần cho nhiều năm mà đủ điều kiện hưởng lương hưu, và có yêu cầu hưởng lương hưu, thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng đủ điều kiện, và có yêu cầu hưởng lương hưu.
Đã đủ điều kiện hưởng lương hưu trước ngày 1/7/2025, không tiếp tục đóng: Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm trở lên, đủ tuổi nghỉ hưu trước ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, và không đóng tiếp từ ngày 1/7/2025, thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành, tức 1/7/2025.
Đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện trước năm 2021, đủ điều kiện hưởng trước 1/7/2025: Nếu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trước ngày 1/1/2021, đã đóng từ đủ 20 năm trở lên, và đủ 60 tuổi với nam, 55 tuổi với nữ trước ngày 1/7/2025, thì cũng được hưởng từ ngày Luật có hiệu lực.
Đóng một lần cho thời gian còn thiếu: Nếu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng một lần cho thời gian còn thiếu theo quy định tại Nghị định số 159/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày đầu tiên của tháng liền kề, sau tháng đóng đủ số tiền cho thời gian đóng còn thiếu.
Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh (chỉ có năm sinh): Thời điểm hưởng lương hưu được tính từ ngày đầu tiên của tháng liền kề sau tháng đủ điều kiện hưởng lương hưu. Trong đó, tháng đủ tuổi nghỉ hưu được xác định trên cơ sở lấy ngày 1/1 của năm sinh để làm căn cứ xác định tuổi của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Như vậy, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã bổ sung nhiều điểm mới nhằm mở rộng quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Theo đó, thời gian đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu được rút ngắn từ 20 năm xuống còn 15 năm. Đồng thời, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cũng được điều chỉnh tăng, giúp giảm chi phí đóng góp cho người tham gia.
Nghị định số 159/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện đã, đã nêu rõ mức hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Mức 50%; 40%; 30%; và 20%, theo thứ tự từng nhóm đối tượng tương ứng là thuộc hộ nghèo, người đang sinh sống tại xã đảo, đặc khu theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; hộ cận nghèo; người tham gia là người dân tộc thiểu số; và các đối tượng khác.
“Thời gian hỗ trợ không quá 10 năm. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc đối tượng hỗ trợ ở nhiều mức khác nhau, thì được hỗ trợ theo mức cao nhất. Chính phủ khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện”, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà khẳng định.
Mức hỗ trợ này tăng nhiều so với quy định tại Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, đó là người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hỗ trợ bằng 30% khi thuộc hộ nghèo; 25% với hộ cận nghèo và 10% với các đối tượng khác.
Đặc biệt, Luật mới còn bổ sung chế độ thai sản vào chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện. Theo đó, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, được hưởng trợ cấp thai sản với mức là 2 triệu đồng cho mỗi con mới sinh. Tiền hỗ trợ do ngân sách nhà nước bảo đảm, người lao động không phải đóng thêm.
Lao động nữ là người dân tộc thiểu số, hoặc lao động nữ là người dân tộc Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, khi sinh con ngoài chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ khác theo quy định của Chính phủ.




Nhóm thủ tục được sửa đổi, bổ sung lần này bao quát nhiều nội dung gắn trực tiếp với quá trình giải quyết, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, từ các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, đến các chế độ dài hạn như lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, tử tuất và các thủ tục trong lĩnh vực bảo hiểm y tế...
Đại hội đại biểu toàn quốc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện quan trọng trong việc định hướng phát triển khu vực kinh tế tập thể, đặt mục tiêu đến năm 2031 cả nước có 45.000 hợp tác xã, 8 triệu thành viên và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...
Chiều 21/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện Hỏa tốc số 57/CĐ-TTg gửi Chủ tịch UBND 19 tỉnh, thành phố Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ cùng các Bộ, ngành liên quan, yêu cầu tiếp tục chủ động ứng phó thiên tai và tập trung khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ...
Từ quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, đã bổ sung chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu, và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Trong thời gian hưởng trợ cấp, họ còn được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế để đảm bảo quyền lợi khi đi khám chữa bệnh...
Ngày 21/8/2026, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Công điện hỏa tốc số 14/CĐ-TL-ATĐ chỉ đạo các địa phương khu vực Đông Bắc Bộ và từ Thanh Hóa đến Nghệ An triển khai cấp bách các biện pháp bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, cấp nước sạch nông thôn và phòng, chống ngập úng sản xuất nông nghiệp trước diễn biến mưa lớn do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.