
Kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ Trung Quốc trong tháng 4/2019 đã tăng mạnh gần 49%.
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu của Việt Nam trong tháng 4/2019 đạt 81,86 triệu USD, tăng 28,9% so với tháng trước đó và là tháng tăng thứ hai liên tiếp đạt mức tăng trưởng dương.
Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 266,86 triệu USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước.
Về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc tiếp tục là quốc gia cung cấp chủ yếu mặt hàng thuốc trừ sâu và nguyên liệu cho Việt Nam.
Cụ thể, trong 4 tháng đầu năm 2019, tỷ trọng nhập từ thị trường này chiếm 55,66%, đạt 148,55 triệu USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Còn tính riêng tháng 4/2019, Việt Nam đã nhập khẩu 50,43 triệu USD mặt hàng này từ Trung Quốc, tăng gần 49% so với tháng 3/2019 và tăng 21,33% so với tháng 4/2018.
Đứng thứ hai là Ấn Độ với kim ngạch xuất khẩu thuốc trừ sâu sang Việt Nam đạt 6,2 triệu USD trong tháng 4, tăng 59% so với tháng trước đó. Tính chung 4 tháng, Việt Nam nhập khẩu 20,8 triệu USD mặt hàng này từ Ấn Độ, giảm 26% so với cùng kỳ năm ngoái.
Thị trường mà Việt Nam nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu nhiều thứ ba là Singapore với mức nhập khẩu 1,6 triệu USD trong tháng 4, giảm mạnh 35% so với tháng 3/2019.
Trong 4 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu mặt hàng này từ Singapore đạt 15 triệu USD, giảm 21% so với cùng kỳ năm 2018.
Nhìn chung, 4 tháng đầu năm 2019 kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ các thị trường đều suy giảm kim ngạch, số thị trường này chiếm 53,33%.
Trong đó, nhập khẩu thuốc trừ sâu từ thị trường Indonesia giảm nhiều nhất với 52% tương ứng với 19,7 triệu USD, riêng tháng 4/2019 nhập từ thị trường này 369,1 nghìn USD, giảm 46,28% so với tháng 3/2019 và giảm 68,79% so với tháng 4/2018.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ thị trường Mỹ, tăng 67,7% tuy chỉ đạt 2,9 triệu USD, trong đó tháng 4/2019 đã nhập 926,8 nghìn USD, tăng 52,25% so với tháng 3/2019 và tăng gấp hơn 2,6 lần (tương ứng 158,05%) so với tháng 4/2018.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.