
Tổng giám đốc Pacific Airlines, ông Lương Hoài Nam nói về những khó khăn khi hãng chuyển sang mô hình hàng không giá rẻ.
Từ hãng hàng không truyền thống, Pacific Airlines chuyển sang hãng hàng không giá rẻ. Tại sao lại có sự chuyển đổi này và ông nghĩ đây là mô hình phù hợp với hãng?|
Phát triển thành hãng hàng không giá rẻ hay không tùy thuộc vào thị trường. Nhu cầu đi máy bay của người dân còn rất thấp.
Một năm ngành hàng không chỉ phục vụ khoảng 5 triệu lượt hành khách, nhưng tính ra chỉ có nữa triệu người thường xuyên sử dụng máy bay trong số 85 triệu dân Việt Nam. Trong khi đó, Indonesia có 30 triệu lượt hành khách trên tổng số dân 230 triệu người hoặc Thái Lan trên 15 triệu lượt khách nội địa sử dụng máy bay.
Điều này cho thấy thị trường hàng không Việt Nam còn quá nhỏ bé để hai hãng hàng không truyền thống cùng tồn tại. Nguyên nhân là do thu nhập người dân Việt Nam còn quá thấp để sử dụng phương tiện hàng không trong khi đó giá vé máy bay có thể còn quá cao so với thu nhập của người dân.
Chính vì điều đó mà chúng tôi nghĩ đến việc phải phát triển thành hãng hàng không giá rẻ để kích thích nhu cầu đi lại bằng phương tiện hàng không trong công chúng. Chúng tôi không đủ lớn để phát triển thành hãng hàng không truyền thống như Vietnam Airlines.
Ba năm trước đây, Pacific Airlines đã từng tuyên bố đi theo mô hình này. Tuy nhiên dường như điều này đã không thực hiện được. Phải chăng hãng còn lưỡng lự, chưa thực sự tự tin với mô hình hàng không giá rẻ?
Đúng vậy, trong thời gian qua chúng tôi thực sự bị dao động khi lựa chọn mô hình truyền thống và giá rẻ. Có người ủng hộ nhưng có ý kiến phản đối vì cho rằng giá rẻ có thực sự dành cho hành khách Việt Nam hay chỉ có người nước ngoài sử dụng?
Hơn nữa người dân Việt Nam chưa quen với mô hình hàng không giá rẻ. Từ khi có sự xuất hiện của các hãng hàng không giá rẻ nước ngoài, chúng tôi mới thực sự yên tâm và tự tin với mô hình này. Bằng chứng cho thấy các hãng hàng không giá rẻ nước ngoài hoạt động rất hiệu quả ở thị trường Việt Nam, tần suất ghế sử dụng luôn ở mức cao.
Thêm vào đó, nói đến hàng không giá rẻ là nói đến hình thức bán vé qua mạng. Bán vé máy bay qua mạng là xu hướng của các hàng không thế giới và dù muốn hay không chúng tôi phải thực hiện hình thức bán vé này.
Theo Hiệp hội Hàng không Thế giới, các hãng hàng không thành viên phải thực hiện chuyển đổi hình thức bán vé giấy sang vé điện tử bắt đầu từ 1/1/2008.
Pacific Airlines khi thành lập vốn dĩ không phải là hàng không giá rẻ mà là hãng hàng không truyền thống. Hãng phải tự ép mình thay đổi như thế nào để trở thành hàng không giá rẻ?
Chúng tôi phải cắt giảm rất nhiều thứ, các dịch vụ của hãng hàng không truyền thống sẽ không còn đối với hàng không giá rẻ để tiết giảm chi phí như vé máy bay chủ yếu được bán qua mạng, hành khách không được phục vụ thức ăn trên các chuyến bay... Chi phí vé máy bay bao gồm phòng vé, giấy in, mực in, nhân viên, đại lý... rất lớn.
Thông thường chi phí vé máy bay của hãng truyền thống khoảng 10 USD/ghế ngồi, còn hãng giá rẻ là 50 cent/ghế ngồi. Đây cũng là mục tiêu của chúng tôi.
Mô hình giá rẻ không cho phép sử dụng nhiều lao động vì vấn đề chi phí. Dôi dư lao động khi chuyển sang mô hình giá rẻ là điều tất yếu và để bộ máy tinh gọn chúng tôi phải cắt giảm 104 lao động trong tổng số 750 lao động đang làm việc tại hãng.
Bên cạnh chi phí lao động, còn chi phí lao động gián tiếp, tức chi phí quản lý. Chi phí cho lao động gián tiếp chiếm khoảng 2,5% tổng chi phí của một hãng hàng không truyền thống. Chúng tôi đặt mục tiêu giảm xuống dưới 1% cho hãng hàng không giá rẻ.
Thuê và sử dụng máy bay sao hiệu quả cũng là điều chúng tôi cần phải thay đổi khi chuyển sang mô hình giá rẻ bởi lẽ chi phí này chiếm đến 30% tổng chi phí khai thác của hãng. Chúng tôi sẽ tăng tần suất sử dụng, thay vì chỉ sử dụng tám chuyến chúng tôi sẽ nâng lên 10 chuyến thậm chí 12 chuyến một ngày. Hiện hãng đang khai thác 20 chiếc.
Trong chi phí khai thác còn có chi phí xăng dầu, khoảng chi này khá lớn. Tuy nhiên giá xăng dầu không thể kiểm soát như các chi phí khác mà phụ thuộc vào giá cả thị trường. Nếu bỏ qua chi phí xăng dầu, Pacific Airlines đã giảm được khoảng 20% chi phí hiện nay để chuyển sang mô hình giá rẻ.
Mục tiêu trong vòng 3-5 năm tới là giảm thêm 30-40% chi phí. Chúng tôi đang cố gắng thay đổi để giảm chi phí xuống mức thấp nhất có thể.
Khi chuyển đổi mô hình, hãng đã gặp khó khăn gì ông cho rằng đáng chú ý nhất? Và để hoạt động hiệu quả hàng không giá rẻ Pacific Airlines có định hướng gì trong những năm tới, thưa ông?
Khó khăn lớn nhất khi chúng tôi chuyển đổi mô hình chính là tâm lý của người lao động. Có nhiều người nghi ngại về mô hình giá rẻ, 10% lao động không tin là thành công. Số ủng hộ nhưng lại không chấp nhận làm những công việc của mô hình này.
Tôi đơn cử chuyện làm vệ sinh trên máy bay. Vì là hàng không giá rẻ nên lao động sẽ không có nhiều. Công việc này tiếp viên hàng không phải làm nhưng có nhiều người phản đối. Họ nói rằng họ không thể làm điều đó vì từ trước giờ đó không phải là công việc của tiếp viên...
Đối với hàng không giá rẻ, khai thác được nhiều chuyến bay và đường bay càng có lợi. Tuy nhiên, thuê máy bay và phi công đang là vấn đề khó khăn đối với Pacific Airlines. Rất khó thuê được máy bay hay phi công vào thời điểm này vì hiện nay nhu cầu rất lớn. Chúng tôi có kế hoạch đào tạo thêm phi công nhưng phải mất vài năm mới sử dụng được.
Mục tiêu của hãng hàng không giá rẻ Pacific Airlines là tăng số lượng hành khách phục vụ từ 750.000 lượt khách hiện nay lên 5 triệu khách vào 2011.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.