Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang dự thảo, lấy ý kiến Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cập nhật năm 2026.
Theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật năm 2024), có 2.166 cơ sở; trong đó có 1.805 cơ sở thuộc ngành công thương; 75 cơ sở thuộc ngành giao thông vận tải; 229 cơ sở thuộc ngành xây dựng và 57 cơ sở thuộc ngành tài nguyên và môi trường.
Đến nay, Việt Nam đã thực hiện và công bố sáu kỳ kiểm kê khí nhà kính quốc gia cho các năm 1994, 2000, 2010, 2013, 2014, 2016, 2018 và 2020 dựa trên số liệu tổng hợp của quốc gia và cấp ngành.
Trong hồ sơ xây dựng dự thảo Quyết định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết trong thời gian qua, các hoạt động kiểm kê khí nhà kính theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg đã được triển khai và đạt được một số kết quả tích cực trong công tác quản lý nhà nước về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Quyết định được ban hành đã góp phần kiểm soát khoảng 23% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia.
Việc xác định danh mục các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cung cấp căn cứ cho các bộ, ngành, địa phương cũng như doanh nghiệp để rà soát và cải thiện hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm kê khí nhà kính theo lĩnh vực, nguồn phát thải. Các bộ, ngành, địa phương và đặc biệt là một số doanh nghiệp đã và đang xây dựng cơ chế cung cấp số liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính.
Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết qua quá trình triển khai thực hiện, công tác quản lý và chấp hành các quy định pháp luật liên quan đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập.
Thứ nhất, về năng lực thực thi và nguồn nhân lực chuyên môn trong thực tế ghi nhận sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia và cán bộ kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Không những thế, năng lực quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu tại cấp cơ sở chưa đáp ứng tiến độ và yêu cầu thực tiễn.
Một trong những nguyên nhân chính là do kiểm kê khí nhà kính và giảm phát thải là cấu phần chuyên môn mới, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, dẫn đến việc thiết lập chế độ thông tin, quản lý số liệu, cũng như mức độ tuân thủ quy định pháp luật của các đối tượng nghĩa vụ chưa đạt tính đồng bộ, thống nhất và toàn diện.
Thứ hai, về tính chính xác của dữ liệu quản lý cơ sở: Hệ thống thông tin lưu trữ về tình trạng hoạt động, địa chỉ kinh doanh và pháp nhân của một số cơ sở thuộc danh mục bắt buộc hiện không còn phù hợp với thực tế.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ biến động thị trường dẫn đến việc các doanh nghiệp tự ý thay đổi địa điểm, chuyển đổi tên gọi thương mại, thay đổi ngành nghề kinh doanh hoặc chấm dứt hoạt động nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ cập nhật kịp thời đến cơ quan quản lý chuyên ngành.
Thứ ba, chế độ báo cáo, cung cấp thông tin về số liệu hoạt động của các cơ sở phát thải khí nhà kính tại một số địa phương còn mang tính hình thức, chưa bảo đảm các tiêu chuẩn về định lượng chất lượng và tiến độ thời gian theo quy định.
Mặc dù Thông tư số 96/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính đã quy định bắt buộc các doanh nghiệp niêm yết phải công bố thông tin phát thải khí nhà kính trực tiếp và gián tiếp trong Báo cáo thường niên, thực tiễn áp dụng tính đến giai đoạn hiện nay vẫn ghi nhận nhiều rào cản. Kết quả giám sát các doanh nghiệp đại chúng chỉ ra rằng phần lớn các tổ chức kinh tế đang đối mặt với thách thức lớn trong việc thực hiện kiểm kê và báo cáo phát thải khí nhà kính chất lượng cao, đặc biệt là lượng phát thải thuộc Phạm vi 3 (Scope 3).
Theo Tiêu chuẩn báo cáo và kế toán doanh nghiệp thuộc Nghị định thư về khí nhà kính, kiểm kê khí nhà kính chất lượng cao bao gồm toàn bộ các nguồn phát thải gián tiếp phát sinh trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp, tính cả dòng thượng nguồn (nguyên liệu đầu vào) và dòng hạ nguồn (tiêu thụ, phân phối sản phẩm).
Khác với Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ các nguồn do doanh nghiệp sở hữu hoặc kiểm soát) và Phạm vi 2 (phát thải gián tiếp từ nguồn năng lượng điện, nhiệt tiêu thụ), Phạm vi 3 phản ánh tác động môi trường diện rộng từ các nguồn nằm ngoài quyền sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp của tổ chức.
Còn dữ liệu khoa học từ Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) xác định rằng, lượng phát thải thuộc Phạm vi 3 chiếm tỷ trọng áp đảo, cấu thành trung bình 75% tổng lượng phát thải của một doanh nghiệp thông thường, và có thể tiệm cận mức 100% đối với các ngành đặc thù như dịch vụ tài chính, bảo hiểm và cung ứng nguyên liệu sản xuất. Đối với các tập đoàn kinh tế phụ thuộc sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tỷ lệ phát thải Phạm vi 3 cấu thành từ 90-95% tổng chuỗi giá trị.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tiến trình cấu trúc hóa dữ liệu kiểm kê khí nhà kính chất lượng cao hiện đang gặp phải các điểm nghẽn kỹ thuật và vận hành.
Cụ thể trong quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp, để bảo đảm tính chính xác của báo cáo, doanh nghiệp phải tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn cấu phần bao gồm nội bộ, nhà cung ứng, khách hàng và các bên liên quan. Hoạt động này phụ thuộc chặt chẽ vào vị thế thương mại và tầm ảnh hưởng tài chính của doanh nghiệp đối với đối tác.
Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để thuyết phục các bên liên quan cung cấp và công khai các thông tin thứ cấp mang tính bảo mật như bảng cân đối tài chính, định mức chi phí và quy trình vận hành nội bộ.
Một điểm đáng chú ý là sự hạn chế cố hữu của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Nhóm đối tượng này thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn lực tài chính và nhân sự chuyên môn kỹ thuật. Quy trình thu thập dữ liệu hiện tại chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công, dẫn đến lãng phí thời gian, sai số lớn và không có khả năng thiết lập hệ thống quản trị dữ liệu tự động.
Ngoài ra, tính đa dạng và phức tạp của nguồn phát thải cũng là một trong những khó khăn thách thức với doanh nghiệp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng các nguồn phát thải thuộc Phạm vi 3 vô cùng phân tán, phát sinh từ hàng hóa, dịch vụ đã mua, hoạt động logistics, vòng đời xử lý chất thải và quá trình sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng. Do đó, việc định lượng các nguồn này trong một chuỗi cung ứng đa tầng, nhiều nhà thầu tham gia là một tác vụ phức tạp.
Dù các kết quả đo lường ban đầu có thể tồn tại biên độ sai số nhất định, việc mở rộng phạm vi kiểm kê sang Phạm vi 3 là bắt buộc để giúp tổ chức định vị các "điểm nóng" phát thải, tạo tiền đề xây dựng chiến lược giảm thiểu khả thi.
Để tối ưu hóa tính chính xác trong công tác kiểm kê, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng các doanh nghiệp cần thực hiện đồng bộ các giải pháp mang tính chiến lược.
Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình mua hàng và quản lý nhà cung cấp: Do phát thải Phạm vi 2 và 3 nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của doanh nghiệp, vai trò của bộ phận quản lý chuỗi cung ứng (trọng tâm là phòng mua hàng) trở nên quyết định. Hoạt động điều phối, thu thập dữ liệu khí nhà kính từ đối tác phải được chuẩn hóa thành một chức năng bắt buộc của bộ phận mua hàng, đi kèm các chương trình đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn.
Thứ hai, sự hợp tác của các đơn vị cung ứng dịch vụ, sản phẩm là điều kiện tiên quyết để tiếp cận các dữ liệu nhạy cảm kinh doanh. Mối quan hệ này phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc đồng hành, đôi bên cùng có lợi, nâng cao năng lực quản trị dữ liệu cho đối tác thay vì áp đặt chế tài hành chính đơn thuần. Doanh nghiệp cần tích hợp các tiêu chuẩn phát thải vào bộ tiêu chí lựa chọn và xếp hạng nhà cung cấp, đồng thời có cơ chế thưởng phạt minh bạch đối với các cam kết phát triển bền vững.
Thứ ba, việc tuân thủ các yêu cầu kiểm kê chất lượng cao tạo áp lực lớn lên nguồn lực tổ chức, đòi hỏi đầu tư thích đáng vào hệ thống quản trị mới. Đây đồng thời là cơ hội để ứng dụng các công cụ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo vào việc thu thập, phân tích dữ liệu nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành về dài hạn.
Mặc dù Chính phủ Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ, song những rào cản về năng lực kỹ thuật, tính sẵn có của dữ liệu và nguồn lực tài chính vẫn là những thách thức nội tại làm ảnh hưởng đến độ tin cậy của công tác kiểm kê.
Tuy nhiên, bối cảnh này cũng mở ra cơ hội lớn để thúc đẩy chuyển đổi số kinh tế xanh, hoàn thiện hệ thống quản trị quốc gia và gia tăng hiệu quả hợp tác công- tư, đồng thời tiếp cận các nguồn tài chính khí hậu quốc tế.
Công tác kiểm kê phát thải khí nhà kính chính là chìa khóa định hình và giám sát lộ trình giảm nhẹ biến đổi khí hậu của quốc gia. Bằng việc chuẩn hóa dữ liệu báo cáo theo các quy chuẩn và định ước quốc tế, Việt Nam có thể hoạch định các chính sách dựa trên bằng chứng khoa học, khẳng định vị thế một thành viên có trách nhiệm trong các cam kết toàn cầu.
Những yêu cầu mới về chống mất rừng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin trong chuỗi cung ứng tại Vương quốc Anh không chỉ tác động đến doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn liên quan trực tiếp đến người sản xuất, vùng nguyên liệu, hệ thống truy xuất nguồn gốc và khả năng cung cấp thông tin của toàn bộ chuỗi cung ứng tại Việt Nam...
Giai đoạn 2 của Dự án Trung tâm Chuyển đổi kép sẽ chuyển trọng tâm từ xây dựng công cụ, nền tảng sang đồng hành trực tiếp với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong triển khai chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào thực tế vận hành…
Dù được xem là một giải pháp hỗ trợ giảm phát thải trong một số ngành công nghiệp, nhưng công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) vẫn bị chỉ trích vì chi phí cao, chưa chắc chắn về kỹ thuật và có nguy cơ làm chậm quá trình cắt giảm phát thải tại nguồn…
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, Pháp đang chuyển trọng tâm từ phát triển công nghệ đơn lẻ sang xây dựng năng lực công nghiệp và hệ sinh thái hoàn chỉnh, từ hydrogen carbon thấp, điện hạt nhân thế hệ mới đến sản xuất thiết bị năng lượng sạch. Đây cũng là kinh nghiệm đáng chú ý đối với Việt Nam trong quá trình tìm kiếm công nghệ, vốn và mô hình hợp tác cho tăng trưởng xanh…
Rosatom nhìn thấy những cơ hội hợp tác rộng hơn tại Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ sản xuất bồi đắp kim loại. "Chúng tôi sẵn sàng xem xét khả năng nội địa hóa việc lắp ráp máy in 3D tại Việt Nam để phục vụ thị trường Đông Nam Á trong tương lai"...
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp, cũng là cơ hội để kết nối những lĩnh vực thế mạnh của Pháp về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ chiến lược với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam.