
Đầu tháng 7 vừa qua, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đã chủ trì hội thảo góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt.
Trong bối cảnh dự thảo sẽ được thảo luận tại Quốc hội trong thời gian tới, đây là dịp để các chuyên gia, hiệp hội và tổ chức tiếp tục đóng góp hoàn thiện những nội dung được dự luật điều chỉnh.
Dự thảo lần này điều chỉnh đối với 16 mặt hàng. Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung đưa nước ngọt có gas không cồn vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Đinh Trịnh Hải, hiện dự thảo sửa đổi Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt đã được Bộ Tài chính công bố lấy ý kiến rộng rãi. Với chức năng của mình, Ủy ban Tài chính - Ngân sách cần phải tổ chức thăm dò, lấy ý kiến của tất cả các bên liên quan để quá trình thẩm tra dự luật đạt được kết quả chính xác, phù hợp với thực tiễn nền kinh tế cũng như đảm bảo tính công bằng cho mọi đối tượng chịu thuế.
Ông Phạm Đình Thi, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) - đại diện ban soạn thảo dự luật cho biết kể từ thời điểm công bố lấy ý kiến hồi tháng 2/2014 đến nay, dự thảo luật đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp có chất lượng của các thành phần trong xã hội. Đáng chú ý, theo thống kê của cơ quan này, đã có hơn 100 bài viết trên các phương tiện truyền thông đại chúng phản ánh, phân tích về nội dung “liệu có nên áp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm nước ngọt có gas không cồn”, cho thấy đây là một nội dung quan trọng của dự thảo.
Sau một thời gian lấy ý kiến, thay vì đưa ra một phương án áp thuế tiêu thụ đặc biệt 10% đối với nhóm sản phẩm này, trong dự thảo mới nhất, Ban soạn thảo đã đệ trình hai phương án, trong đó bổ sung phương án hai là “không áp thuế với nhóm sản phẩm này”, để lấy ý kiến rộng rãi trước khi trình Chính phủ và Quốc hội thông qua.
Theo bà Võ Thị Lan Phương, Giám đốc điều hành Công ty tư vấn Vriens & Partners, thành viên Chương trình cải thiện chất lượng chính sách, dự thảo cần đưa ra 5 phương án đối với sản phẩm nước ngọt, trong đó có phương án không áp thuế như hiện nay hoặc áp thuế đối với tất cả các sản phẩm nước ngọt, không phân biệt có gas hay không có gas.
Bởi theo chuyên gia này, hiện tác động của sản phẩm nước ngọt có gas đối với sức khoẻ theo lý giải của ban soạn thảo dự luật là chưa rõ ràng vì các sản phẩm nói chung đều chứa hàm lượng đường tương tự nhau.
Mặt khác, theo ông Nguyễn Hùng Long, Phó cục trưởng Cục Vệ sinh An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, các phụ gia thực phẩm mà Ủy ban Codex cho phép sử dụng, bao gồm CO2, chất bảo quản, chất ngọt tổng hợp, phẩm màu...trong nước ngọt có gas đã được tiến hành phân tích nguy cơ bởi Ủy ban chuyên gia hỗn hợp FAO/WHO về phụ gia thực phẩm (JECFA).
Kết quả cho thấy, việc sử dụng phụ gia đúng đối tượng và liều lượng theo tiêu chuẩn của Ủy ban Codex đảm bảo an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng.
Đại diện chủ trì hội thảo, ông Đinh Trịnh Hải cho biết, do có nhiều ý kiến khác nhau về việc nên hay không nên áp thuế tiêu thụ đặc biệt với nước ngọt có gas không cồn, cơ quan thẩm tra sẽ tiếp tục trao đổi, lấy ý kiến thông qua các cuộc hội thảo với sự tham gia rộng rãi của đại diện tất cả các bên, để có cái nhìn đa chiều và xác thực nhất cho lần sửa đổi này, đảm bảo luật mới khi được ban hành sẽ khắc phục những bất cập, hạn chế của luật hiện tại, đồng thời đảm bảo tính công bằng cho mọi doanh nghiệp và người dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với Nhà nước.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.