
Theo số liệu của Bộ Thương mại, kho
ảng
40% l
ư
ợng
hàng hoá đến với người tiêu dùng trong nước vẫn qua hệ thống chợ.
44% h
àng h
óa
l
à
qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống, còn hàng hóa qua hệ thống phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi...) mới chỉ chiếm khoảng 10%; còn lại 6% là do nhà sản xuất trực tiếp bán thẳng.
Nhược điểm chung của hệ thống phân phối hiện nay đã được Bộ Thương mại chỉ ra là còn quá nhiều cấp trung gian trong cùng một khâu (bán buôn, bán lẻ), quá nhiều đầu mối trên cùng một khu vực địa lý.
Bên cạnh đó là sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các đơn vị thành viên thuộc cùng một doanh nghiệp, khả năng kiểm soát (các chi phí chủ yếu, giá bán, chất lượng, chương trình bán hàng...) toàn bộ hệ thống từ nhà sản xuất, nhập khẩu qua bán buôn đến bán lẻ thiếu tính liên kết.
Do vậy đã không tạo ra được sức mạnh chung trong việc nghiên cứu thị trường, tập trung đơn đặt hàng, định hướng cho sản xuất và hướng dẫn cho tiêu dùng. Điều này khiến cho khả năng tự điều chỉnh của thị trường kém nhanh nhạy và các biện pháp can thiệp của Nhà nước khó phát huy hiệu quả.
Điều này dẫn tới hậu quả là tác động của thị trường thế giới đến thị trường trong nước thường mạnh hơn so với các nước khác.
Nguyên nhân chính là phần lớn doanh nghiệp thương mại có quy mô nhỏ, vốn ít, nguồn nhân lực thiếu về số lượng, yếu về trình độ tổ chức hệ thống phân phối phát triển theo hướng hiện đại.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, muốn có một nền thương mại hiện đại phải có được một đội ngũ thương nhân mạnh với những doanh nghiệp lớn có mô hình kinh doanh hiện đại, phương thức kinh doanh tiên tiến, phát triển mang tính "đầu tàu" để lôi kéo, liên kết các doanh nghiệp khác lại, tạo thành một hệ thống phân phối hiện đại, phát triển bền vững.
Mới đây, Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Tp.HCM - Saigon Coop vừa được Tạp chí Bán lẻ châu Á bình chọn là nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam và lọt vào top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á - Thái Bình Dương.
Đây là một ví dụ điển hình cho mô hình hệ thống phân phối theo chuỗi đã bước đầu được hình thành và có xu hướng phát triển (một tất yếu khách quan của lý thuyết "quy mô kinh tế" trong lĩnh vực phân phối) với chuỗi 16 siêu thị và trên 10 cửa hàng tiện lợi mang thương hiệu "Coop Mart".
Bên cạnh đó, việc sử dụng phương thức nhượng quyền thương mại để mở rộng mạng lưới bán hàng, khai thác và kết hợp nguồn lực của nhiều doanh nghiệp nhỏ trở thành hệ thống có quy mô lớn và có trình độ tổ chức cao đang ngày một phát triển.
Ví dụ, Công ty TNHH Cà phê Trung Nguyên có trên 1.000 cửa hàng và Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ G7 với hệ thống phân phối G7 Mart (bao gồm các cửa hàng tiện lợi, siêu thị, Trung tâm thương mại), Công ty Kinh Đô với gần 100 hiệu bánh "Kinh Đô Bakery", Công ty Cổ phần Hoang Corp với hệ thống cửa hàng tiện lợi 24 - Seven, Công ty TNHH Phạm Trang với hệ thống cửa hàng tiện lợi Small Mart 24h/7...
Quá trình liên kết giữa các doanh nghiệp ngày càng phong phú về hình thức và đa dạng về nội dung, thực hiện trên cơ sở tích hợp thế mạnh của nhau như vốn, đất đai, kinh nghiệm quản lý, thương hiệu để tạo ra những liên minh mạnh hơn, có quy mô kinh doanh lớn hơn.
Tiêu biểu cho mô hình liên kết này là sự ra đời của Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (VDA) trong tháng 5/2007. Công ty này do 4 thành viên gồm: Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Tổng công ty Thương mại Hà Nội, Saigon Coop và Tập đoàn Phú Thái hợp sức lại nhằm mục đích cùng thiết lập một hệ thống phân phối hàng hoá trên toàn quốc.
Mô hình của VDA được kỳ vọng sẽ vừa phát huy được sức mạnh của từng thành viên, vừa tạo ra được vị thế mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập, góp phần xây dựng nền thương mại trong nước vững mạnh để chuẩn bị đón đầu cho việc mở cửa hoàn toàn lĩnh vực thương mại dịch vụ từ 1/1/2009.
Sự hình thành các hãng phân phối lớn xuyên quốc gia và đa quốc gia có mạng lưới phủ khắp toàn cầu đã trở thành một thế lực mạnh, áp đặt cuộc chơi cho các nhà sản xuất.
Nếu Việt Nam không sớm củng cố, phát triển hệ thống phân phối trong nước tốt trước khi mở cửa thị trường thì Việt Nam chỉ có thể hưởng lợi trong thu hút nguồn vốn FDI do quá trình phân công lại cơ cấu sản xuất trên phạm vi toàn cầu, còn việc để các tập đoàn phân phối nước ngoài vào và chi phối thị trường trong nước là điều khó tránh khỏi trong một tương lai gần.
Từ chi phối về phân phối sẽ dẫn đến chi phối về sản xuất. Các nhà sản xuất Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ thì rất khó tạo ra lợi nhuận cao để có thể tích tụ, mở rộng quy mô do giá trị gia tăng trong công đoạn sản xuất ngày một thấp.
Vì vậy, sự xuất hiện của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực phân phối sẽ làm cho mối quan hệ giữa nhà sản xuất, bán buôn và bán lẻ ngày càng chặt chẽ và mật thiết, tạo ra một hệ thống phân phối hàng hoá chuyên nghiệp, liên hoàn, ngày càng hiệu quả.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.