
Theo Chương trình phát triển Sâm Việt Nam, các địa phương có tiềm năng, thế mạnh về điều kiện tự nhiên phù hợp cho việc nuôi trồng, phát triển Sâm Việt Nam, gồm các tỉnh: Quảng Nam, Kon Turn, Gia Lai, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Trong đó, phát triển vùng nguyên liệu Sâm Việt Nam quy mô hàng hóa tại các tỉnh: Quảng Nam, Kon Turn và Lai Châu.
Mục tiêu chung của Chương trình là xây dựng và phát triển sâm Việt Nam thành ngành hàng có giá trị kinh tế cao, thành sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực y dược, chăm sóc sức khỏe, mang thương hiệu quốc gia; góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Mục tiêu cụ thể giai đoạn đến năm 2030 bảo tồn nguồn gene sâm Việt Nam ngoài tự nhiên gắn với bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng; phấn đấu diện tích trồng sâm Việt Nam đạt 21.000ha vào năm 2030.
Cùng với đó, sản lượng khai thác từ năm 2030 đạt 300 tấn/năm (diện tích khai thác khoảng 1.000ha/năm); đảm bảo nguồn gốc xuất xứ, đạt tiêu chuẩn GACP - WHO (thực hành tốt nuôi trồng và thu hái) hoặc tương đương; đầu tư xây dựng các cơ sở sơ chế, chế biến sâu các sản phẩm từ sâm gắn với vùng trồng nguyên liệu.
Định hướng đến năm 2045 phát triển sâm Việt Nam thành ngành hàng mang thương hiệu quốc tế, có giá trị xuất khẩu cao, tạo nguồn thu quan trọng cho các địa phương, phấn đấu đưa Việt Nam thành nước sản xuất sâm lớn trên thế giới.
Việc triển khai Chương trình sẽ được thực hiện đồng bộ, từ phát triển vùng nguyên liệu đến chế biến, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương. Từ đó phát triển Sâm Việt Nam thành thương hiệu quốc gia, đưa Sâm Việt Nam thành sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực y - dược; chăm sóc sức khỏe; đa dạng hóa sản phẩm, từng bước đưa Sâm Việt Nam thành ngành hàng có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn với bảo hộ thương hiệu Sâm Việt Nam.
Việc nuôi, trồng, phát triển Sâm Việt Nam trong môi trường rừng phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đi đôi với việc bảo tồn tại chỗ nguồn gen Sâm Việt Nam; sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng, không làm suy thoái tài nguyên rừng, suy giảm chức năng của khu rừng.
Đối tượng bảo tồn, phát triển, chế biến, thương mại ở quy mô hàng hóa gồm: Sâm Ngọc Linh (Panax vỉetnamensis Ha et Grushv), Sâm Lai Châu (Panax vỉetnamensỉs var.fiscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai).
Về quỹ đất dự kiến để gây trồng, phát triển Sâm Việt Nam phục vụ mục tiêu sản xuất, kinh doanh tại Chương trình này bao gồm: gây trồng, phát triển dưới tán rừng phòng hộ, rừng sản xuất theo phựơng thức sản xuất lâm, nông kết hợp theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đất trồng cây nông nghiệp. Thời gian thực hiện: Giai đoạn I: từ năm 2023 đến hết năm 2030; Giai đoạn II: đến năm 2045, được xây dựng trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện giai đoạn I.
Cùng với đó, Chương trình cũng đánh giá các loài Sâm Việt Nam có phân bố trong rừng tự nhiên thuộc các tỉnh: Quảng Nam, Kon Turn, Gia Lai, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên về: phân bố, loài (phân tích gen), diện tích, trữ lượng và đề xuất vùng trồng thích hợp. Xây dựng vùng bảo tồn nguyên vị (in situ) và vườn sưu tập (ex situ) nguồn gen cây Sâm Việt Nam tại một số vùng sinh thái điển hình có phân bố tự nhiên, ưu tiên ở các tỉnh Quảng Nam, Kon Turn, Lâm Đồng, Nghệ An, Lai Châu; Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về bảo tồn, phát triển nguồn gen các loài Sâm Việt Nam và xác định vùng trồng thích hợp.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hơp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ và ủy ban nhân dân các tỉnh trong phạm vi Chương trình triển khai thực hiện. Trong đó, tập trung công tác nghiên cứu, chọn, tạo, sản xuất giống Sâm Việt Nam; hình thành các cơ sở sản xuất giống hiện đại tại các địa phương trên cơ sở xác định cụ thể về quy mô diện tích vùng trồng Sâm Việt Nam phù hợp, đảm bảo hiệu quả, trong đó ưu tiên tại các tỉnh Quảng Nam, Kon Turn, Lai Châu, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa với khả năng cung ứng cây giống cho phát triển vùng nguyên liệu bình quân khoảng 2.000 ha/năm.
Dự kiến, Chương trình phát triển Sâm Việt Nam đến năm 2030 có tổng diện tích 21.000 ha; trong đó diện tích dưới tán rừng phòng hộ là 15.189 ha; dưới tán rừng sản xuất 5.788 ha; trên đất nông nghiệp khác 23 ha. Các địa phương được xác định có diện tích lớn triển khai Chương trình là: Quảng Nam 8.400 ha; KonTum 8.180 ha; Lai Châu 3.000 ha.




Khu công nghiệp cần chuyển từ mô hình cung cấp mặt bằng sạch sang phát triển theo hướng xanh, thông minh, gắn với chuyển đổi số và nâng cao chất lượng thu hút đầu tư…
Mô hình phát triển khu công nghiệp Việt Nam cần chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường, có khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước…
Các chuyên gia cho rằng trọng tâm để phát triển khu công nghiệp không còn là mở rộng quỹ đất hay tăng số lượng dự án, mà phải chuyển sang nâng cao chất lượng quy hoạch, phát triển hệ sinh thái công nghiệp, tăng liên kết doanh nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi xanh...
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần tái định vị khu công nghiệp từ không gian sản xuất sang hệ sinh thái tích hợp sản xuất với đổi mới sáng tạo, dịch vụ và đô thị, với thể chế đóng vai trò dẫn dắt quá trình chuyển đổi…
Vietjet tiếp tục khẳng định sức hút của môi trường làm việc quốc tế khi được vinh danh “Nơi làm việc tốt nhất Châu Á” (HR Asia Best Companies to Work for in Asia Awards) tại HR Asia Awards 2026.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Các đối tượng đều thành lập doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức góp vốn, đầu tư kinh doanh. Đây là một loại núp bóng trá hình, đặc biệt là tập trung vào lĩnh vực du lịch, nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe, y tế. Đó là cảnh báo của Bộ Công an liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.