Đảng ủy Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 319-QĐ/ĐU ngày 30/6/2026 về việc thành lập và ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động Bộ phận nghiên cứu chuyên đề của Thủ tướng Chính phủ.
Theo quyết định, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề của Thủ tướng Chính phủ do Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo, điều hành.
Ông Đặng Xuân Phong, Phó Bí thư, Chánh Văn phòng Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, kiêm nhiệm Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề của Thủ tướng Chính phủ.
Bộ phận nghiên cứu chuyên đề triển khai từ ngày 1/7/2026 và thực hiện trong nhiệm kỳ Đại hội khóa XIV của Đảng.
Quy chế nêu rõ Bộ phận nghiên cứu chuyên đề là bộ phận tham mưu, tư vấn Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ.
Bộ phận có nhiệm vụ nghiên cứu, tổng hợp thực tiễn để tham mưu, đề xuất các nội dung, cơ chế, chính sách, phương án, giải pháp, đề án, dự án thuộc thẩm quyền quyết định hoặc cho ý kiến của Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo chỉ đạo.
Bên cạnh đó, Bộ phận nghiên cứu chuyên đề tham gia ý kiến, phản biện, góp ý đối với các cơ chế, chính sách, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án theo chỉ đạo.
Bộ phận cũng cử thành viên tham gia các ban chỉ đạo, tổ biên tập, ban soạn thảo, tổ giúp việc xây dựng các đề án, dự án theo đề nghị của cơ quan liên quan khi được phân công; biên soạn tài liệu, hướng dẫn chuyên môn; tổ chức hoặc tham gia tọa đàm, tập huấn, bồi dưỡng, trao đổi chuyên môn theo yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Ngoài ra, Bộ phận thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Về cơ cấu tổ chức, Bộ phận nghiên cứu chuyên đề gồm Trưởng Bộ phận, Phó Trưởng Bộ phận và các thành viên.
Trưởng Bộ phận do Phó Bí thư, Chánh Văn phòng Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ kiêm nhiệm. Phó Trưởng Bộ phận do Trưởng Bộ phận lựa chọn, phân công trong số các thành viên, thực hiện nhiệm vụ thường trực, giúp việc Trưởng Bộ phận.
Thành viên Bộ phận là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định điều động, phân công, bố trí tham gia theo Kết luận số 41-KL/TW ngày 3/6/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Bộ phận nghiên cứu chuyên đề có Tổ giúp việc, chịu sự điều hành trực tiếp, toàn diện của Trưởng Bộ phận và Phó Trưởng Bộ phận. Văn phòng Chính phủ, Cơ quan Đảng ủy Chính phủ, trên cơ sở ý kiến thống nhất của Trưởng Bộ phận, điều động, bố trí cán bộ, công chức tham gia Tổ giúp việc theo hình thức kiêm nhiệm hoặc chuyên trách.
Theo Quy chế, Bộ phận nghiên cứu chuyên đề thực hiện các hoạt động nghiên cứu theo chuyên đề và các nhiệm vụ khác theo ý kiến của cấp có thẩm quyền; không xử lý công việc hành chính thường xuyên.
Hoạt động của Bộ phận được thực hiện trên nguyên tắc không làm tăng thêm đầu mối tổ chức và biên chế; không làm phát sinh đầu mối trung gian trong quy trình xử lý công việc; không thay thế chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quy trình tham mưu chính thức của Văn phòng Chính phủ và các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy Chính phủ.
Mỗi nhiệm vụ được giao phải xác định rõ người chủ trì, người phối hợp, tiến độ thực hiện, sản phẩm đầu ra, mức độ bảo mật và trách nhiệm thi hành; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với hoạt động chuyên môn trong phạm vi nhiệm vụ được giao, nhất là trách nhiệm của người chủ trì tham mưu từng nhiệm vụ, từng sản phẩm.
Bộ phận nghiên cứu chuyên đề họp định kỳ hoặc đột xuất để thảo luận chuyên môn, đánh giá tiến độ, chất lượng công việc, xử lý các vấn đề phát sinh. Hình thức họp được áp dụng linh hoạt, gồm trực tiếp, trực tuyến, họp không giấy tờ và quản lý hồ sơ công việc trên môi trường số theo quy định.
Bộ phận thực hiện chế độ báo cáo định kỳ tháng, quý, năm và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), lãnh đạo các nước: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Campuchia, Liên bang Nga, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh đã có điện và thư mừng gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập 1945 là văn kiện có ý nghĩa chính trị và pháp lý, là nền tảng vững chắc để dân tộc ta xây dựng, thực thi chủ quyền toàn diện, trong đó có chủ quyền kinh tế trên các lĩnh vực tài nguyên, tiền tệ, công nghệ, hướng tới một nền kinh tế tự chủ, tự cường.
Sáng 2/9, nghi lễ Thượng cờ được tổ chức trang nghiêm tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi cách đây 81 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.