
Việc Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) với vốn đầu tư hàng chục tỉ đồng mở cửa cuối năm ngoái đã dây lên hy vọng đây sẽ là mô hình mẫu, giúp phá bỏ tập quán mua bán nông thủy sản theo lối mòn bao năm qua của nông dân Việt Nam bắt đầu từ hạt cà phê.
Thế nhưng, sau hơn 4 tháng đi vào hoạt động mới thấy rằng thay đổi tập quán của nông dân, lẫn doanh nghiệp không hề đơn giản chút nào.
Trường hợp BCEC gợi lại những câu chuyện trước đây, khi nhiều sàn giao dịch nông thủy sản được nhà nước tốn tiền tỉ xây dựng nhưng đã phải “chết yểu” như sàn giao dịch thủy sản Cần Giờ, sàn giao dịch hạt điều, rồi một loạt chợ đầu mối nông sản chỉ còn lại hệ thống kho chứa.
Giao dịch 4 tháng, hơn 1 tỉ đồng
Ông Nguyễn Tuấn Hà, Giám đốc Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC), cho biết trong 3 tháng đầu năm nay chỉ có 2 phiên giao dịch với sản lượng vài chục tấn nhưng riêng tháng 4 này đã có nhiều phiên thành công, như trong ngày 24/4, lượng cà phê giao dịch qua sàn đạt giá trị hơn 220 triệu đồng. Tuy nhiên, dù nói gì thì nói thì tới nay, sau hơn 4 tháng mở cửa, giá trị giao dịch qua sàn chỉ hơn 1 tỉ đồng.
Do vậy, trên diễn đàn cà phê tại địa chỉ http://www.y5cafe.info, cư dân mạng quan tâm tới cà phê đã cho rằng khối lượng và giá trị cà phê giao dịch qua BCEC còn thua xa một đại lý cà phê cỡ nhỏ ở cấp huyện, trong khi trung tâm được nhà nước đầu tư hàng chục tỉ đồng.
Họ không chê sao được khi đại lý cỡ nhỏ ở xã, huyện, trong mùa vụ thu hoạch cà phê có thể mua bán hàng chục hay hàng trăm tấn một ngày là chuyện bình thường, còn ở sàn thì có ngày như ngày 8/4, chỉ giao dịch có 5 tấn vỏn vẹn được 125 triệu đồng.
Cũng thật đáng buồn khi danh sách thành viên đăng ký bán cà phê ở sàn tới giờ, dù có tăng nhưng cũng chỉ 15 cá nhân mà ai nhìn vào cũng biết chắc một điều đó đa phần là đại lý, hay nói nôm na là thương lái cà phê (dân trồng cà phê gọi tắt là “lái cà”), như hạt muối trong biển cả nếu so với hàng vạn hộ dân trồng cà phê ở Đắc Lắc nói riêng và hàng trăm ngàn hộ nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên mà sàn này định hướng nhắm tới.
Thành viên đăng ký kinh doanh, hay nói chính xác hơn là đăng ký mua, cũng chỉ mới 14 doanh nghiệp, con số quá nhỏ bé so với hơn 140 doanh nghiệp có kinh doanh cà phê hiện nay ở tỉnh Đắc Lắc.
Thói quen cũ không dễ bỏ
“Thay đổi tập quán mua bán cà phê của nông dân không phải là điều dễ dàng trong ngày một ngày hai và chúng tôi đang cố gắng vận động nông dân, đại lý cũng như tìm cách hỗ trợ nông dân về vốn ứng trước cho cà phê ký gửi vào kho của BCEC cũng như phương tiện vận chuyển cà phê”, ông Hà cho hay.
Ông thừa nhận đây là mô hình giao dịch không chỉ mới mẻ với nông dân mà mới mẻ với ngay cả các nhân viên của BCEC hay cả ngành thương mại của Việt Nam. Do vậy, trung tâm liên tục cử cán bộ đến các xã trồng nhiều cà phê xung quanh thành phố Buôn Ma Thuột, vận động các hộ trồng cà phê lớn tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, xem nông dân bị khúc mắc, khó khăn khi đưa cà phê tới sàn ở điểm nào để tháo gỡ.
Những cuộc làm việc giữa cán bộ của trung tâm với hội nông dân xã, huyện càng ngày càng nhiều lên. Nhờ vậy, từ một vài thành viên đăng ký ban đầu, nay theo ông Hà, tăng lên 15 thành viên cũng là con số chứng minh nỗ lực của sàn.
Gần 1 tháng trước, khi biết người viết bài này đang công tác ở một huyện trồng cà phê của Đắc Lắc, ông Hà đã điện thoại “nhờ” người viết tranh thủ “điều tra” giúp các hộ nông dân nơi người viết làm việc, xem thử tại sao nông dân chưa muốn bán cà phê qua sàn, khó khăn vướng mắc ở đâu? Nhưng khó khăn mà nông dân vấp phải mà người viết biết được cũng chẳng khác ông Hà và các cán bộ ở sàn nắm được trong nhiều tháng qua.
Đó là thói quen mua bán cũ khá tiện lợi cho nông dân. Nông dân thu hoạch cà phê với bất kỳ khối lượng nào cũng được đại lý, thương lái ở thôn buôn, trong xã tới mua cà phê xô mà tiền có thể trao ngay hoặc ghi nợ mà nông dân có thể lấy bất kỳ lúc nào mình muốn.
Trong khi nếu muốn bán cho sàn, đầu tiên phải làm ra cà phê đạt tiêu chuẩn Việt Nam - vốn khá rắc rối với nông dân, may ra đại lý cấp huyện trở lên mới đủ điều kiện phân loại cà phê. Sau đó nông dân phải chuyên chở tới sàn mà không ai cũng có phương tiện.
Hay nói khác hơn, bản chất của kiểu mua bán cũ là qua nhiều tầng nấc trung gian để đưa hạt cà phê từ nông dân tới nhà xuất khẩu hay chế biến. “Đột phá để phá vỡ một phần trong hệ thống mua bán cũ đã ăn sâu vào nông dân, đại lý không phải là điều dễ dàng vì mua bán kiểu cũ quá tiện lợi cho nông dân nhưng giá trị của hạt cà phê lại nằm rải rác qua nhiều khâu”, ông Hà tâm sự.
Doanh nghiệp lớn chưa muốn vào sàn
Thuyết phục nông dân đã khó thì thuyết phục doanh nghiệp chẳng dễ dàng gì. Tuy hiện nay mới chỉ có 14 doanh nghiệp đăng ký làm thành viên kinh doanh tại sàn nhưng trong số này lại thiếu vắng những doanh nghiệp lớn, nhất là các doanh nghiệp nhà nước hàng đầu ở Buôn Ma Thuột như Simexco, Vinacafe Buôn Ma Thuột…
Điều này khá dễ lý giải bởi đây là những doanh nghiệp có mạng lưới thu mua cà phê đủ mạnh thông qua các đại lý của mình ở huyện, xã và họ cũng chẳng cần tham gia sàn dù thừa biết đây là phương thức mua bán hiện đại mà nhiều nước tiên tiến đã và đang áp dụng cho nông sản.
Thế nhưng khác với các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh cà phê thì cả 3 liên doanh chế biến cà phê nhân của nước ngoài có mặt tại Đắc Lắc là Công ty Liên doanh Chế biến cà phê xuất khẩu MAN - Buôn Ma Thuột, Công ty TNHH Cà phê Hà Lan - Việt Nam (Nedcoffee) và Olam Dak Lak đều đăng lý làm thành viên của sàn ngay từ đầu.
Không thể trách nông dân hay doanh nghiệp, ông Hà cũng thừa nhận mô hình giao dịch của sàn quá mới mẻ ở Việt Nam và với chính đội ngũ nhân viên sàn, nên vừa làm học, vừa tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước, lẫn góp ý của doanh nghiệp và nông dân.
Chẳng hạn khi mới ra đời, BCEC dự tính giao dịch mỗi lô (lot) là 5 tấn cà phê, nay còn xuống còn 1 tấn cho phù hợp với quy mô của nông dân, trước thì mỗi ngày chỉ mỗi phiên giao dịch buổi sáng, bây giờ tăng lên 2 phiên, có cả buổi chiều cho tiện lợi, rồi làm việc với ngân hàng ủy thác thanh toán tại sàn là Techcombank hỗ trợ vốn sau khi nông dân mang cà phê tới kho mà chưa bán được.
Hồng Văn
(TBKTSG)
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Với tổng vốn đầu tư lũy kế hơn 80 tỷ USD, Nhật Bản không chỉ là đối tác kinh tế hàng đầu mà còn là người bạn đồng hành tin cậy của Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh, dư địa hợp tác giữa hai nước đang ngày càng mở rộng, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2026 của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Nhân dịp hướng tới kỷ niệm 67 năm chuyến thăm Baku của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ngày Việt Nam tại Thủ đô Baku, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Shovgi Kamal Oglu Mehdizade, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Azerbaijan tại Việt Nam, về triển vọng hợp tác song phương cũng như vai trò của Azerbaijan trong việc kết nối logistics giữa Việt Nam với châu Âu.
Sau hơn 10 năm thực thi, Luật An toàn, vệ sinh lao động đã góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện điều kiện làm việc tại nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước những thay đổi mạnh mẽ của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các mô hình việc làm mới, việc sửa đổi luật đang được đặt ra nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh, nâng cao hiệu quả bảo vệ người lao động và tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...