
Hình thức thanh toán bằng thẻ tín dụng đã có mặt tại Việt Nam từ hơn 10 năm trở lại đây, tuy nhiên sự quan tâm của khách hàng đối với hình thức thanh toán thông minh này trên thực tế chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Thực tế này đang dần thay đổi nhờ nỗ lực mở rộng thị trường và cải thiện sức hấp dẫn của thẻ tín dụng của các ngân hàng Việt Nam.
Tại những nước tiên tiến ngay trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, hay Singapore, thẻ tín dụng là vật bất ly thân của người tiêu dùng. Khác với thẻ thanh toán, thẻ tín dụng có một lợi ích không thể so sánh là cho phép người dùng thẻ vay tiền ngân hàng để sử dụng, sau đó trả dần.
Điều này đặc biệt hữu ích trong những trường hợp cần tiền mặt đột xuất, khi đau ốm hay cần mua ngay một món hàng trị giá lớn. Ngoài ra, dùng thẻ tín dụng còn rất nhiều lợi ích như: gọn nhẹ, an toàn hơn dùng tiền mặt, được ưu đãi giảm giá, được tham gia khuyến mãi đặc biệt của ngân hàng…
Ở Việt Nam, mặc dù thị trường thẻ ngân hàng đang phát triển mạnh nhưng thẻ tín dụng vẫn chưa được nhiều người dân Việt Nam biết đến và sử dụng. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, số lượng thẻ mà các ngân hàng thương mại đã phát hành ra thị trường tính đến hết quý 1/2014 là hơn 68 triệu thẻ. Trong đó, số thẻ tín dụng chỉ chiếm 3,6% tức là khoảng 2,43 triệu thẻ.
Rào cản đối với thẻ tín dụng trước tiên phải kể đến tâm lí e ngại, chưa quen với việc “thanh toán trước trả sau” của người dân. Mạng lưới hạ tầng phục vụ thanh toán bằng thẻ chưa phát triển, chủ yếu chỉ bao phủ ở các trung tâm thương mại, khách sạn… cũng đang là một hạn chế đối với sự phổ biến của thẻ tín dụng. Trong khi đó, rất nhiều người dân mong muốn được sở hữu thẻ tín dụng thì lại gặp phải trở ngại từ yêu cầu thủ tục.
Chị Thu Huyền, công nhân một khu chế xuất ở Bình Dương cho biết: “Với mức lương 4 triệu/tháng, không có ngân hàng nào cấp thẻ tín dụng vì e ngại khách không trả được nợ. Những lúc đau ốm hay cần tiền đột xuất, tôi phải tìm cách vay mượn nóng từ bạn bè, nhưng không phải lúc nào cũng có sẵn”.
Với mục tiêu phổ biến rộng rãi thẻ tín dụng như là một trong những phương tiện thanh toán hữu ích thay cho tiền mặt, các ngân hàng Việt Nam đang có nhiều giải pháp tích cực để người dân làm quen và yêu thích thẻ tín dụng.
Một giải pháp khá hữu ích là tăng cường tích hợp tiện ích trong một thẻ tín dụng. Chẳng hạn như, thẻ tín dụng Visa Platinum của Techcombank, dành cho các doanh nhân, nhà quản lý cấp cao…vốn có nhu cầu đi công tác, du lịch thường xuyên đến nhiều quốc gia, được tích hợp dịch vụ hỗ trợ cá nhân và phong cách sống (Techcombank Concierge).
Nhờ tính năng này, khi mang theo thẻ Visa Platinum, dù đi đâu, ở nước nào, vào bất kỳ thời điểm nào cần kíp, khách hàng đều có thể nhận được các thông tin hữu ích để đặt chỗ ở khách sạn, nhà hàng, đặt vé máy bay, nơi mua sắm, giải trí, thủ tục hải quan, visa.
Đáng chú ý, các sản phẩm thẻ tín dụng ngày càng được chuyên biệt hóa dành cho từng nhóm khách hàng cụ thể, đồng thời nhóm khách hàng được cấp thẻ đang được mở rộng. Chẳng hạn như, tại ngân hàng Techcombank, nếu như thẻ Visa Platinum có các tính năng phù hợp với những nhà quản lý, doanh nhân… thì thẻ tín dụng Dream Card - một sản phẩm vừa mới được tung ra thị trường, lại hướng tới tầng lớp có mức thu nhập chỉ từ 4 triệu/tháng, đôi khi có nhu cầu tiền mặt lớn, mà ngại thủ tục ngân hàng rườm rà.
Thẻ Dream Card có những tính năng hữu ích cho những người mới đi làm, công nhân tại khu chế xuất… như thủ tục đơn giản, cho phép người dùng ứng trước tới 2 lần lương, lãi suất cạnh tranh, khách hàng chỉ phải hoàn trả số tiền bằng 10% số tiền đã tiêu hàng tháng. Việc phát triển những loại thẻ chuyên biệt đang làm phong phú thêm thị trường thẻ và tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người dân có thể tiếp cận và lựa chọn thẻ tín dụng phù hợp nhất.
Theo nhận định của các chuyên gia, hiện nay ở Việt Nam có nhiều yếu tố khá thuận lợi cho việc phát triển thẻ tín dụng, như tốc độ đô thị hóa nhanh, dân số trẻ và thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện. Khi các ngân hàng chủ động nâng cao sức hấp dẫn cho sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người dân làm quen với thẻ tín dụng, thì đây hứa hẹn là một thị trường đầy tiềm năng trong những năm tới.
(Nguồn: Techcombank)




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.