Chính
phủ vừa ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày
26/5/2026 quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính
sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Nghị
định gồm 5 chương, 20 điều, quy định tương đối toàn diện về tổ chức, hoạt động
của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên
trách ở thôn, tổ dân phố.
Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng để các địa phương khẩn trương triển khai sắp xếp thôn, tổ
dân phố; rà soát, bố trí, kiện toàn và hoàn thiện chế độ, chính sách đối với
đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với mô
hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Nghị
định tiếp tục khẳng định thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân
cư, được tổ chức tại cấp xã. Đồng thời, cho phép địa phương linh hoạt trong
việc tổ chức và đặt tên cộng đồng dân cư phù hợp với thực tiễn, thay vì áp dụng
cứng một mô hình thống nhất giữa các vùng miền.
Theo
đó, trong những trường hợp có yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, dân tộc,
phong tục, tập quán hoặc mức độ đô thị hóa, chính quyền cấp xã có thể quyết
định giữ hoặc sử dụng các tên gọi truyền thống như bản, buôn, sóc, làng, khu
phố, tổ dân phố… trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng và đặc điểm của cộng đồng
dân cư tại địa phương.
Quy
định này thể hiện tinh thần tôn trọng bản sắc văn hóa, tính tự quản và quyền tự
quyết của cộng đồng dân cư trong việc lựa chọn mô hình, tên gọi gắn với đời
sống và truyền thống của mình.
Nghị
định đặt ra nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đồng
thời đề cao vai trò chủ thể của người dân trong đời sống cộng đồng thông qua
việc phát huy dân chủ trực tiếp ở cơ sở.
Đặc
biệt, Nghị định đã bước đầu phân định tương đối rõ giữa hoạt động tự quản của
cộng đồng dân cư với hoạt động phối hợp, hỗ trợ chính quyền cấp xã, qua đó hạn
chế xu hướng “hành chính hóa” thôn, tổ dân phố.
Nghị
định cũng quy định cụ thể về tổ chức của thôn, tổ dân phố; nhiệm vụ, quyền hạn
của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; tiêu chuẩn của người giữ chức danh này.
Đồng
thời, giao thẩm quyền cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ căn cứ yêu cầu
nhiệm vụ, đặc điểm địa bàn và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, quyết
định bố trí các chức danh người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố để hỗ trợ
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, hoặc thực hiện các hoạt động tự quản của
cộng đồng dân cư.
Đối với
việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân
phố, Nghị định quy định rõ nguyên tắc, tiêu chuẩn quy mô hộ gia đình theo từng
vùng miền.
Cụ thể,
ở Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thôn phải có từ 500 hộ gia đình
trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.
Ở vùng
trung du và miền núi phía Bắc, thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân
phố phải có từ 300 hộ trở lên. Ở vùng đồng bằng sông Hồng, thôn phải có từ 400
hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên.
Ở vùng
Bắc Trung bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ
450 hộ gia đình trở lên. Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, thôn phải
có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Ở vùng
Đông Nam bộ, thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở
lên. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố
phải có từ 550 hộ trở lên.
Về chế
độ, chính sách, Nghị định quy định thống nhất 3 chức danh người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, gồm: Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng
tổ dân phố và Trưởng Ban Công tác Mặt trận.
Đồng
thời, điều chỉnh tăng mức khoán quỹ phụ cấp từ ngân sách nhà nước phù hợp với
quy mô và tính chất địa bàn (tăng từ mức 6,0 lần lên mức 8,0 lần mức lương cơ
sở đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù; tăng từ 4,5 lần lên 6,5 lần mức
lương cơ sở đối với các thôn, tổ dân phố còn lại).
Ngoài
ra, Nghị định cũng quy định về đào tạo, bồi dưỡng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế và chính sách đối với người nghỉ do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
nhằm bảo đảm ổn định tổ chức và quyền lợi của đội ngũ này trong quá trình triển
khai thực hiện.
Bộ Nội vụ
cho biết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và các quy định của pháp luật hiện
hành, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố thời gian qua đã đạt kết quả quan trọng, giảm
từ 136.824 đơn vị năm 2015 xuống còn 89.574 năm 2025 (giảm 47.250 thôn, tổ dân phố, tương đương 34,53%,).
Sau khi thực
hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, bình quân số thôn, tổ
dân phố trên mỗi đơn vị hành chính cấp xã tăng lên nhiều (từ khoảng 9 thôn, tổ
dân phố/1 cấp xã lên khoảng 27 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã), làm tăng số lượng đầu
mối và tạo áp lực quản lý lớn đối với chính quyền cấp xã.
Đối với đội
ngũ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, sau khi thực hiện sắp xếp, cả nước còn 268.722 người đang tiếp tục
được bố trí và hưởng phụ cấp theo quy định hiện hành.