
Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, thời gian gần đây, lượng khách du lịch Thái Lan đến Việt Nam tăng đáng kể
.
Trong hai tháng đầu năm 2007 Việt Nam đón được 26.221 lượt khách đến từ thị trường này, tăng 73,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo ông Lưu Đức Kế, Giám đốc chi nhánh Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành tại Hà Nội, so với cùng kỳ năm ngoái, lượng khách Thái Lan đi theo tour của công ty đã tăng lên rõ rệt.
Tương tự, lượng tour bán cho khách Thái Lan trong tháng này của Công ty Du lịch Việt Thái cũng có sự khởi sắc khác hẳn so với thời gian trước đó. Bình quân trong một tháng công ty này bán ra trên 40 tour.
Ông Lê Đại Tâm, Giám đốc Công ty Du lịch Việt Thái cho biết: “Đây là tín hiệu đáng mừng đối với các công ty ông nói riêng và cả cho những công ty lữ hành chuyên kinh doanh về mảng khách Thái Lan tại các tỉnh phía Bắc nước ta nói chung, bởi lẽ trước kia lượng khách này tới Việt Nam chủ yếu đến các tỉnh phía Nam”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Võ Văn Vượng (Việt kiều tại Thái Lan), Giám đốc Công ty S.P.B.R.Tour (một công ty du lịch lữ hành tại vùng Đông bắc Thái Lan) cho biết: “Hiện nay, trung bình một tháng công ty ông bán được từ 4-5 tour đến Việt Nam (trong đó mỗi tour tối thiểu 40 người). Thay vì trước đây, mỗi tháng công ty chỉ bán được 1-2 tour”.
Theo ông Vượng, hầu hết khách du lịch đi tour của công ty ông sang Việt Nam chủ yếu đi bằng đường bộ thông qua Quốc lộ 8 và Quốc lộ 9.
Đồng quan điểm này, ông Lê Đại Tâm nói: “Nếu hai tuyến đường Quốc lộ 8 và Quốc lộ 9 được các công ty lữ hành của chúng ta chú tâm khai thác thì trong tương lai lượng khách Thái Lan đến Việt Nam sẽ tăng lên gấp nhiều lần so với hiện nay”
Ông Võ Văn Vượng cho biết: “Khách đến Việt Nam thông qua công ty chúng tôi chủ yếu đi theo các điểm Hà Nội, Hạ Long và Hải Phòng. Bởi đây là địa những địa danh được các kênh truyền hình ở Thái Lan giới thiệu quảng bá nhiều nhất”.
Cùng với lý do này, một thực tế khó có thể phủ nhận được rằng hiện tại sự bùng phát của các dịch vụ hàng không giá rẻ của một số nước trong khu vực đã thu hút được một lượng khách du lịch không nhỏ tới Việt Nam.
Theo ông Kế, dịch vụ hàng không giá rẻ của Thái Lan và vấn đề quảng bá xúc tiến du lịch của chúng ta đang là “cú hích” để thúc đẩy lượng khách Thái Lan tăng trưởng trong một hai năm tới.
Việc Thái Lan tung ra các dịch vụ hàng không giá rẻ đồng nghĩa với việc không chỉ Thái Lan thu hút khách du lịch về với họ mà nó sẽ có tác dụng kích thích ngày càng nhiều người dân Thái Lan đi du lịch ra các nước khác, trong đó có Việt Nam.
Ông Lê Lự - Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch tổng kết: “Ngoài việc xúc tiến quảng bá ra, lượng khách du lịch Thái Lan đến Việt Nam tăng là do tuyến du lịch bằng đường bộ qua Quốc lộ 8 và Quốc lộ 9 đã phát huy được ít nhiều lợi thế của nó. Bên cạnh đó, việc các công ty lữ hành của chúng ta đã và đang triển khai xây dựng các tour mới với Thái Lan cũng là một lý do để lượng khách Thái Lan đến Việt Nam tăng hơn năm trước”.
Tuy nhiên có thể nói, so với các thị trường khách truyền thống khác, lượng khách Thái Lan đến Việt Nam vẫn còn hạn chế, mặc dù có nhiều thuận lợi hơn so với các thị trường khác.
Theo các công ty kinh doanh lữ hành, hạn chế lớn nhất khiến lượng khách này tới Việt Nam chưa được như mong muốn là nước bạn Lào chưa có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, trong khi đó Lào lại là địa danh trung gian lối liền giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan .
Chính vì vậy, theo ông Kế, Việt Nam và Thái Lan muốn đẩy lượng khách của nhau lên đòi hỏi cả hai bên phải xây dựng bằng được các tour Đông Dương lối liền Việt Nam –Lào –Thái Lan.
Vấn đề này cũng được ông Minh Thế Long - Phó giám đốc Trung tâm Du lịch Kim Liên cho rằng phải làm ngay. Ông Long còn cho rằng, một nguyên nhân khiến cho khách du lịch Thái Lan chưa “mặn mà” với các tour Việt Nam là do giá tour của chúng ta còn rất cao so với giá tour của các nước trong khu vực.
Ngoài ra, nhiều nơi số khách sạn đủ tiêu chuẩn phục vụ khách vẫn còn hạn chế. Chính vì thế, vào mùa cao điểm, giá tour dễ bị đẩy lên cao.
Ông Lự dự đoán, trong tương lai lượng khách Thái Lan đến Việt Nam có thể sẽ có nhiều triển vọng.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.