
Theo số liệu của Bộ Công Thương, nếu như giai đoạn 2007 - 2012 cả nước chỉ có khoảng 6 trung tâm logistics, thì trong vòng hơn 10 năm trở lại đây con số này đã tăng lên gấp 10 lần. Theo báo cáo sơ bộ của 45/63 tỉnh, thành hiện tại Việt Nam có 69 trung tâm logistics trên cả nước.
Như vậy, số lượng trung tâm logistics đã tăng rất nhanh, hướng đến xây dựng những trung tâm logistics có quy mô lớn, trung tâm logistics tích hợp, phục vụ cho một ngành hoặc khu vực.
Trung tâm logistics không chỉ còn tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ, mà khu vực miền Bắc, miền Trung cũng đã xuất hiện những trung tâm logistics rất lớn như Trung tâm logistics quốc tế Bắc Giang hay Công viên logistics. Đặc biệt, các trung tâm logistics đã áp dụng công nghệ 4.0, tích hợp các kho lạnh, kho ngoại quan, kho nội địa hay phục vụ chuyên biệt cho nông sản với những yêu cầu rất cao về hệ thống kiểm soát độ ẩm, hệ thống thông gió.
Tuy nhiên, tại toạ đàm “Phát triển trung tâm logistics: Kết nối, khơi thông chuỗi cung ứng bền vững” ngày 29/5, bà Đặng Hồng Nhung, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, cho rằng sự phát triển trung tâm còn bộc lộ một số hạn chế nhất định.
Đó là chưa hình thành được những trung tâm logistics quốc gia và thậm chí là của các khu vực mà có vai trò dẫn dắt thị trường, dẫn dắt các quy hoạch logistics của quốc gia.
Cùng với đó, công tác quy hoạch và gắn kết giữa quy hoạch hệ thống giao thông vận tải với quy hoạch trung tâm logistics hiện nay đôi chỗ vẫn còn nhiều bất cập. Công tác thu hút đầu tư và phát triển hệ thống trung tâm logistics còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù, đầu tư trung tâm logistics đã được đưa vào danh mục ngành nghề đầu tư ưu đãi, nhưng các ưu đãi đó vẫn chưa mang tính cụ thể, chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp.
Mặt khác, không phải doanh nghiệp nào cũng nhận thức được tính ưu việt của việc thuê ngoài các dịch vụ logistics, vì thế các trung tâm logistics còn gặp khó khăn trong việc tìm nguồn khách hàng.
Ngoài ra, các quy định về cơ chế quản lý và chính sách liên quan đến phát triển trung tâm logistics hiện nay còn thiếu và chưa cụ thể. Mặc dù đã có trong các định hướng, song quy định cụ thể thế nào là trung tâm lưu tích hay phân loại, phân hạng trung tâm logistics, tiêu chí đối với với trung tâm logistics hiện tại chưa có.
Ở góc độ nhà đầu tư trung tâm logistics, khó khăn hiện nay theo ông Đào Văn Thuấn, Phó Giám đốc Công viên Logistics Viettel Lạng Sơn là sự đồng bộ các dữ liệu. Đồng nhất các dữ liệu trong chính nội tại hệ sinh thái logistics trung tâm, và sự đồng nhất dữ liệu giữa các trung tâm với nhau là rất cần thiết. Nếu không đồng bộ được những dữ liệu đó thì việc tối ưu chi phí, tối ưu về mặt quy trình dường như sẽ không thực hiện được.
Để thúc đẩy các trung tâm logistics phát triển, ông Hoàng Đình Kiên, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tiếp vận Hòa Phát (Hòa Phát Logistics) đề xuất, Nhà nước cần ban hành các quy định hỗ trợ các trung tâm logistics tiếp cận, cung cấp giải pháp trực tiếp kết nối giữa chính quyền Nhà nước với các công ty, khách hàng, các nhãn hàng và các công ty logistics.
Theo bà Trương Thị Mùi, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Logistics Quốc tế Bắc Giang, ngoài nỗ lực của các chủ đầu tư, các doanh nghiệp thì vai trò hỗ trợ từ phía Chính phủ, các cơ quan nhà nước rất quan trọng. Theo đó, hành lang pháp lý, thể chế dành cho trung tâm logistics như thế nào… cần được cụ thể hóa trong chính sách để doanh nghiệp có hành lang rộng mở hơn, có hướng đầu tư lâu dài.
Một điểm nữa, chúng ta đã quy hoạch các trung tâm logistics, các vị trí trong mạng lưới quốc gia hay địa phương, song cần gắn với quy hoạch tổng thể, bố trí các mạng lưới giao thông gắn kết, ví dụ như đường sắt. “Một trung tâm logistics tiếp cận với đường sắt sẽ khác với việc phải chuyển tải bằng nhiều phương tiện”, bà Mùi nhấn mạnh.
Đồng tình, bà Nhung cho rằng trong thời gian tới, quy hoạch logistics phải được xem xét tích hợp vào với quy hoạch của địa phương và trong mối quan hệ với quy hoạch của vùng cũng như của cả nước. Địa phương cần phải ưu tiên kết nối hạ tầng đa phương thức.
Để các địa phương thu hút được doanh nghiệp đầu tư trung tâm logistics, cần phải cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi hơn nữa cho nhà đầu tư. Chính quyền địa phương phải có những chính sách hỗ trợ mang tính thực chất về thủ tục hành chính, về tài chính, đào tạo nhân lực. Bởi ngoài những chính sách của Trung ương, địa phương cũng cần có những chính sách riêng để thu hút đầu tư trong lĩnh vực này.
Theo bà Nhung, doanh nghiệp nào cũng muốn có những ưu đãi, nhưng nguồn lực của Nhà nước có hạn nên chính quyền địa phương cần chủ động dẫn dắt mô hình hợp tác công - tư trong phát triển trung tâm logistics. Địa phương có thể hỗ trợ vấn đề về quy hoạch, giải phóng mặt bằng, về đất đai, còn doanh nghiệp sẽ đầu tư vận hành kho bãi và ứng dụng công nghệ…
Với các trung tâm logistics được xây dựng theo kiểu truyền thống, phải tái cấu trúc lại, ứng dụng chuyển đổi số và đặc biệt chuyển đổi xanh nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động để hướng đến những mô hình kinh doanh bền vững hơn.
Đồng thời, đẩy mạnh liên kết và chia sẻ nguồn lực. Nguồn lực ở đây là nguồn lực cả về cơ sở vật chất, thông tin và liên kết. Không chỉ là liên kết giữa các trung tâm logistics với các doanh nghiệp, khách hàng, mà là giữa các trung tâm logistics với nhau và thậm chí là giữa các trung tâm logistics với các cơ quan quản lý nhà nước. Liên kết để chia sẻ thông tin, chia sẻ khách hàng, chia sẻ lộ trình để tận dụng được, giảm sự lãng phí trong quy trình logistics.
Liên kết vùng là chìa khóa để nâng cao sức cạnh tranh của du lịch trong bối cảnh du khách ngày càng ưu tiên trải nghiệm thay vì ranh giới hành chính. Tại tọa đàm liên kết phát triển du lịch Hà Nội - Tuyên Quang năm 2026, các đại biểu đề xuất xây dựng sản phẩm liên vùng, tăng cường quảng bá, thúc đẩy chuyển đổi số và phát huy vai trò của doanh nghiệp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng của hai địa phương...
Với cảnh quan thiên nhiên còn nguyên sơ, bản sắc văn hóa được gìn giữ cùng định hướng phát triển đúng đắn, thôn Tha đang từng bước khẳng định vị thế là điểm sáng của du lịch cộng đồng tỉnh Tuyên Quang. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa, phát triển sinh kế và nâng cao chất lượng dịch vụ không chỉ góp phần nâng cao đời sống người dân mà còn tạo nền tảng để địa phương phát triển du lịch theo hướng bền vững...
Dù được xác định là "trụ đỡ" của nền kinh tế, nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa thu hút được nguồn lực đầu tư tương xứng với tiềm năng, đồng thời đối mặt nhiều điểm nghẽn. Theo các chuyên gia, để tạo động lực tăng trưởng mới, ngành cần đồng bộ các giải pháp về thể chế, chuyển đổi số và phát triển chuỗi giá trị...
TP. Hồ Chí Minh đang định hình lại chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2026 - 2030 theo hướng xanh hóa sản xuất, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Mục tiêu đến năm 2030 có tối thiểu 30% năng lượng sử dụng trong các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu sẽ đến từ nguồn năng lượng tái tạo, góp phần đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu...
Sự phát triển "thần tốc" của các sàn giao dịch trực tuyến, các trang mạng xã hội bán hàng đi kèm với những rủi ro về chất lượng sản phẩm, thông tin sai lệch đã khiến lĩnh vực này luôn đứng đầu về số lượng khiếu nại...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...