Để hiểu rõ hơn về tầm nhìn này, VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Huỳnh Hồ Đại Nghĩa, Chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
HƯỚNG ĐÔNG LÀ LOGIC: BIỂN-CẢNG-HÀNH LANG NỘI ĐỊA
Thưa ông, khái niệm "hướng Đông – tỏa Tây" nên được hiểu như thế nào? Liệu có thể hình dung đây là mô hình: biển là cửa ngõ hội nhập toàn cầu; các hành lang kinh tế kết nối vào biển; từ đó lan tỏa động lực phát triển ngược trở lại đất liền?
"Hướng Đông – tỏa Tây" là một mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia dựa trên logic biển – cảng – hành lang – nội địa.
"Hướng Đông" trước hết là hướng ra biển, ra đại dương, ra các tuyến hàng hải quốc tế và ra không gian hội nhập toàn cầu. Với Việt Nam, phía Đông không chỉ là Biển Đông theo nghĩa địa lý, mà là cửa ngõ chiến lược để đất nước kết nối với thương mại quốc tế, chuỗi cung ứng, công nghệ, dòng vốn, tri thức và các tiêu chuẩn phát triển mới.
Nhưng "hướng Đông" không có nghĩa là chỉ phát triển vùng ven biển. Điểm cốt lõi nằm ở vế thứ hai: "tỏa Tây" - chiều lan tỏa ngược trở lại đất liền. Khi các cửa ngõ phía Đông, gồm cảng biển, đô thị biển, khu kinh tế ven biển, khu thương mại tự do, trung tâm logistics và trung tâm tài chính phát triển, động lực đó phải đi sâu vào phía Tây đất nước, kết nối với Tây Nguyên, miền núi, các vùng nguyên liệu, vùng sản xuất, vùng nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, du lịch, năng lượng và các đô thị nội địa.
Như vậy, biển không phát triển tách rời đất liền. Biển trở thành điểm mở để tái cấu trúc toàn bộ không gian phát triển quốc gia. Biển là cửa ngõ hội nhập toàn cầu; cảng biển và logistics là bộ máy kết nối; khu thương mại tự do và trung tâm tài chính là thiết chế nâng cấp giá trị; các hành lang kinh tế là mạch dẫn; còn các vùng nội địa là không gian tiếp nhận, chuyển hóa và nhân lên động lực phát triển.
Tuy nhiên, "hướng Đông – tỏa Tây" chỉ thật sự vận hành hiệu quả khi đặt trên nền của "trục Bắc – Nam liền dải". Trục Bắc – Nam giống như dải xương sống của cơ thể con người, giúp kết nối các vùng, bảo đảm sự liên tục của lãnh thổ phát triển, liên thông các trung tâm kinh tế, và gắn các hành lang Đông – Tây vào một cấu trúc thống nhất. Nếu không có trục Bắc – Nam đủ mạnh, các hành lang ra biển dễ bị phân mảnh. Nếu không có hướng Đông đủ mở, trục Bắc – Nam lại thiếu động lực hội nhập toàn cầu.
Mô hình đầy đủ nên được hiểu là: biển là cửa ngõ hội nhập toàn cầu; phía Đông là không gian đột phá mở ra đại dương; các hành lang kinh tế là mạch dẫn; phía Tây là không gian hấp thụ và lan tỏa động lực phát triển; trục Bắc – Nam là xương sống bảo đảm sự liền dải, liên thông và thống nhất của cơ thể quốc gia; còn sáu chiều không gian phát triển là cấu trúc vận hành đa tầng của cơ thể đó.
"Đây không chỉ là một khẩu hiệu phát triển. Đó là cách tổ chức lại lãnh thổ, hạ tầng, đô thị, sản xuất, logistics, tài chính, dữ liệu, văn hóa và thể chế của Việt Nam."
PHÍA TÂY LÀ KHÔNG GIAN NHÂN LÊN ĐỘNG LỰC TỪ BIỂN
Nếu coi biển là trung tâm của không gian phát triển, thì vùng Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền núi sẽ được kết nối với biển theo cơ chế nào?
Nếu coi biển là trung tâm của không gian phát triển, điều đó không có nghĩa là các vùng không giáp biển bị đặt ra ngoài cuộc. Ngược lại, tư duy này giúp các vùng nội địa có con đường rõ hơn để tham gia vào chuỗi giá trị quốc gia và toàn cầu.
Điều quan trọng là chúng ta cần nhận thức đúng. Biển không phải là không gian riêng của các tỉnh ven biển, mà là cửa ngõ hội nhập của cả quốc gia. Vì vậy, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, trung du miền núi phía Bắc hay các vùng sâu trong nội địa đều phải được kết nối với biển thông qua các hành lang kinh tế, chuỗi logistics, chuỗi giá trị sản xuất và hệ thống đô thị – hạ tầng liên vùng.
Đối với Tây Nguyên, kết nối với biển phải được tổ chức thông qua các hành lang Đông – Tây, gắn vùng nguyên liệu, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái, công nghiệp chế biến và kinh tế carbon thấp với các cảng biển Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Khi đó, cà phê, rau hoa, trái cây, dược liệu, sản phẩm sinh học hay du lịch cao nguyên không còn là sản phẩm địa phương đơn lẻ, mà trở thành một phần của chuỗi xuất khẩu, chuỗi du lịch, chuỗi logistics và chuỗi tiêu dùng quốc tế.
Với Đồng bằng sông Cửu Long, kết nối với biển cần được nhìn theo hai chiều. Một là hướng ra các cảng biển, cảng sông, trung tâm logistics và không gian kinh tế biển của vùng, phục vụ nông sản, thủy sản, lương thực, năng lượng tái tạo và kinh tế biển Tây Nam. Hai là hướng liên kết với TP.HCM, Cái Mép – Thị Vải và hệ thống cảng nước sâu phía Đông Nam Bộ để tham gia sâu hơn vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ cần "đường ra biển", mà cần một hệ thống logistics đủ mạnh để nâng cấp giá trị nông nghiệp, thủy sản và kinh tế sinh thái.
Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, dù không giáp biển, nhưng vẫn có thể kết nối với biển thông qua các hành lang đường bộ, đường sắt, cửa khẩu, trung tâm logistics nội địa và hệ thống cảng biển phía Bắc. Các vùng này có thể tham gia chuỗi giá trị thông qua nông sản đặc hữu, khoáng sản chế biến sâu, du lịch biên giới, kinh tế cửa khẩu, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ và thương mại xuyên biên giới.
"Mỗi địa phương, kể cả địa phương không giáp biển, cần trả lời năm câu hỏi chiến lược: mình kết nối với cảng nào; tham gia chuỗi giá trị nào; sử dụng không gian số ra sao; khai thác bản sắc văn hóa như thế nào; và giữ lại giá trị gia tăng ở khâu nào."
Cơ chế cốt lõi ở đây là phát triển theo hành lang, theo chuỗi giá trị, theo nền tảng logistics và theo sáu chiều không gian phát triển. Trong mô hình "hướng Đông – tỏa Tây", phía Đông mở ra đại dương, nhưng phía Tây không phải là vùng phụ thuộc thụ động. Phía Tây là không gian tiếp nhận, chuyển hóa và nhân lên động lực phát triển từ biển. Nếu tổ chức tốt, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng miền núi sẽ không đứng sau các đô thị biển, mà trở thành phần không thể thiếu của cấu trúc phát triển quốc gia hướng biển.
Nếu phải khái quát mô hình phát triển của Việt Nam trong 20 năm tới bằng một sơ đồ, ông sẽ mô tả như thế nào?
Tôi sẽ mô tả bằng ba lớp hình ảnh.
Lớp thứ nhất: "Hướng Đông – tỏa Tây". Đây là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương. Phía Đông không chỉ là biển theo nghĩa địa lý, mà là cửa ngõ hội nhập toàn cầu, nơi Việt Nam kết nối với các tuyến hàng hải quốc tế, chuỗi cung ứng, dòng vốn, công nghệ, tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn số và các trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
Từ không gian đột phá đó, sức phát triển phải được lan tỏa sâu vào phía Tây đất nước thông qua các hành lang kinh tế, logistics, đường sắt, đường bộ cao tốc, đường thủy nội địa, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng và các chuỗi giá trị vùng.
Lớp thứ hai: "Trục Bắc – Nam liền dải". Đây là dải xương sống của cơ thể quốc gia. Nếu hướng Đông tạo ra không gian mở và động lực hội nhập, thì trục Bắc – Nam bảo đảm sự liền mạch, liên thông và thống nhất của toàn bộ lãnh thổ phát triển. Trục này kết nối các vùng động lực, các đô thị lớn, các cảng biển, sân bay, khu kinh tế, trung tâm logistics và các hành lang ngang Đông – Tây. Nhờ đó, phát triển không bị chia cắt thành từng vùng riêng lẻ, mà được tổ chức thành một mạng lưới quốc gia thống nhất.
Lớp thứ ba: Sáu chiều không gian phát triển. Nếu "hướng Đông – tỏa Tây" là hướng mở và hướng lan tỏa, "trục Bắc – Nam liền dải" là xương sống liên kết, thì sáu chiều không gian là cấu trúc vận hành của cơ thể phát triển Việt Nam.
Hướng Đông chỉ có ý nghĩa chiến lược nếu gắn với khả năng tỏa Tây. Nếu biển, cảng biển, đô thị biển và khu kinh tế ven biển phát triển nhưng không kéo được Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, miền núi và các vùng nội địa tham gia chuỗi giá trị, thì đó vẫn chỉ là phát triển cục bộ.
Nếu nói thật ngắn gọn, "hướng Đông – tỏa Tây, trục Bắc – Nam liền dải" là tầm nhìn trong đó Việt Nam đi ra thế giới bằng cửa ngõ biển, dùng động lực từ biển để nâng cấp đất liền, dùng trục Bắc – Nam để kết nối toàn bộ quốc gia và dùng sáu chiều không gian phát triển để mở rộng biên độ tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không thể chỉ phát triển theo từng địa phương riêng lẻ, cũng không thể chỉ phát triển trên một mặt phẳng lãnh thổ. Quốc gia đó phải biết tổ chức không gian phát triển như một cơ thể sống: có cửa ngõ mở ra thế giới, có xương sống liên kết toàn quốc, có các mạch máu hành lang, có hệ thần kinh dữ liệu, có chiều sâu hạ tầng, có tầng trời công nghệ và có linh hồn văn hóa.
Cơ chế "vòng tròn khép kín" đang tạo đặc quyền cho các thương nhân kinh doanh xuất gạo cũ; cần minh bạch hóa quy trình chỉ định đầu mối giao dịch và bãi bỏ các quy định dự trữ lưu thông bất hợp lý gây lãng phí nguồn lực doanh nghiệp...
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng trên cơ sở Luật Dầu khí năm 2022, đồng thời bám sát định hướng của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Việc hoàn thiện thể chế lần này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới, tháo gỡ kịp thời các bất cập thực tiễn và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành Dầu khí…
Nhiều mặt hàng quen thuộc như: thanh long, sầu riêng, dừa, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, các loại rau gia vị, rau ăn lá cùng nhiều giống hoa và cây cảnh của Việt Nam đã hiện diện ngày càng sâu tại thị trường Đài Loan...
7 tháng năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định với những tín hiệu tích cực từ khu vực sản xuất và đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tăng 18,4% so với cùng kỳ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,4%, đánh dấu mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân ước đạt 15,20 tỷ USD, thiết lập kỷ lục cao nhất của kỳ 7 tháng trong vòng 5 năm trở lại đây... Trong bối cảnh đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,39%, và lạm phát cơ bản được giữ ở mức 4,19%...
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 7 tháng đầu năm 2026 với kim ngạch gần 6,78 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, triển vọng những tháng cuối năm được dự báo sẽ đối mặt nhiều sức ép hơn khi các chính sách thuế mới của Hoa Kỳ bắt đầu phát huy tác động, trong khi các yêu cầu kỹ thuật tại nhiều thị trường ngày càng khắt khe...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.