Sau hơn hai thập kỷ phát triển, thị trường cổ phiếu Việt Nam đã ghi nhận hơn 13,6 triệu tài khoản cá nhân với quy mô vốn hóa tiệm cận 82% GDP. Tuy nhiên, đằng sau những con số quy mô ấn tượng là một vấn đề nan giải: số lượng nhà đầu tư thực sự gắn bó dài hạn với thị trường vẫn ở mức khiêm tốn. Trong bối cảnh các kênh đầu tư thay thế như vàng, ngoại tệ, tiền số đang chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn, đây chính là “cửa sổ cơ hội vàng” để thiết kế lại cách thức giao dịch trên thị trường cổ phiếu nhằm mục tiêu chuyển thị trường cổ phiếu từ một sàn giao dịch ngắn hạn thành một kênh tích sản và cung ứng vốn dài hạn đúng nghĩa cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
SỐ TÀI KHOẢN TĂNG NHƯNG DÒNG VỐN Ở LẠI CHƯA TƯƠNG XỨNG
Số lượng tài khoản chứng khoán tại thị trường Việt Nam tăng nhanh, đến cuối tháng 7/2026 đạt gần 13,6 triệu tài khoản. Tuy nhiên, theo một tính toán không chính thức, sau khi loại trừ các tài khoản trùng lặp hoặc không hoạt động, tỷ lệ dân số thực sự tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán chỉ khoảng 6%, thuộc nhóm thấp trong khu vực châu Á.
Ngoài ra, một thống kê được dẫn lại tại Hội nghị ngành quỹ ngày 25/8/2026 phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm: khoảng 95% nhà đầu tư cá nhân thua lỗ và dần rời bỏ thị trường sau khoảng 02 năm tham gia. Mặc dù con số này là chỉ mang tính chất tham khảo và có độ sai lệch có thể lớn, nó vẫn chỉ ra một hạn chế mang tính cấu trúc của thị trường cổ phiếu: Thị trường liên tục phải tái tạo lớp nhà đầu tư mới theo từng chu kỳ 2 - 3 năm thay vì tích lũy được một cơ sở nhà đầu tư dài hạn đủ dày.
Sự đứt gãy trong việc chuyển hóa từ nhà đầu tư mới sang nhà đầu tư dài hạn tích sản dẫn đến hiện tượng: thanh khoản có thể bùng nổ hàng tỷ USD trong các giai đoạn hưng phấn, nhưng dòng tiền nhàn rỗi của hộ gia đình không thực sự được giữ lại trên thị trường. Doanh nghiệp niêm yết dù báo cáo lợi nhuận tăng trưởng ấn tượng nhưng giá cổ phiếu vẫn bị nén sâu do thiếu lực cầu mỏ neo dài hạn khi khối ngoại bán ròng. Thị trường cổ phiếu vì vậy chưa thực hiện đầy đủ sứ mệnh cung cấp vốn cổ phần dài hạn cho doanh nghiệp, cũng như trở thành kênh tích sản đáng tin cậy của công chúng như tại các thị trường phát triển trên thế giới.
CÁCH THỊ TRƯỜNG VẬN HÀNH ĐANG KHUYẾN KHÍCH ĐẦU CƠ NGẮN HẠN?
Khá dễ dàng để đưa ra kết luận “nhà đầu tư Việt Nam chỉ thích lướt sóng”. Tuy nhiên, góc nhìn kinh tế học hành vi chỉ ra một đáp án khác: Có thể cách thức thiết kế và vận hành thị trường hiện nay đang vô tình góp phần định hình hành vi đầu cơ ngắn hạn của nhà đầu tư và không tạo thuận lợi cho khả năng tích sản lành mạnh. Một số hiện tượng sau đây cần được xem xét nghiêm túc nếu muốn điều chỉnh hành vi của nhà đầu tư:
Thứ nhất, sự lệ thuộc vào “Bảng điện tử” và thanh khoản. Trong hơn 20 năm qua, hình ảnh quen thuộc của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam vẫn là ngồi trước bảng điện tử, theo dõi những bước giá xanh - đỏ thay đổi liên tục, quan sát cung cầu trong từng thời điểm và quyết định mua hoặc bán. Khi kết hợp với mạng xã hội, các hội nhóm đầu tư và đòn bẩy margin, môi trường này rất dễ thúc đẩy tâm lý FOMO, giao dịch theo đám đông, phản ứng quá mức trước những biến động ngắn hạn hoặc bị lôi kéo vào các giao dịch mang tính rủi ro cao.
Thứ hai, đòn bẩy Margin và bán giải chấp. Đòn bẩy tài chính (Margin) là một công cụ để nhà đầu tư gia tăng lợi nhuận trong giai đoạn thị trường đi lên. Đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam, tỷ lệ tổng giá trị cho vay margin của hệ thống công ty chứng khoán trên giá trị giao dịch bình quân phiên trong thời gian vừa qua lên tới khoảng 15 - 20 lần, vượt xa so với thị trường Hoa Kỳ hay các thị trường khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia chỉ có tỷ lệ này ở mức 1 - 3 lần. Do chưa có những quy định quản lý nhằm bảo vệ nhà đầu tư và hạn chế biến động lan truyền trên thị trường, khi thị trường điều chỉnh mạnh, các đợt bán giải chấp cưỡng bức dây chuyền bằng lệnh thị trường (MP) có thể khiến nhiều tài khoản thua lỗ nặng nề và gần như mất hoàn toàn khả năng tích sản.
Thứ ba, thị trường còn thiếu một hệ sinh thái sản phẩm dành cho tích sản dài hạn. Các chương trình đầu tư định kỳ tự động (Automatic Investment Plan), sản phẩm hưu trí và các giải pháp đầu tư đa dạng hóa chưa đủ phổ biến để giúp người dân đầu tư một cách đều đặn, dài hạn. Thay vào đó, phần lớn nhà đầu tư cá nhân vẫn phải tự lựa chọn và giao dịch từng cổ phiếu, khiến quyết định đầu tư dễ phụ thuộc vào biến động ngắn hạn của thị trường và tâm lý nhà đầu tư.
Các đặc điểm nêu trên cho thấy thiết kế thị trường hiện nay đã khá thuận lợi cho việc giao dịch và tạo thanh khoản đúng với tính chất thị trường thứ cấp, nhưng chưa tạo ra động lực cho việc nắm giữ và tích sản dài hạn. Nếu không có những sửa đổi phù hợp, có thể số tài khoản chứng khoán mở lũy kế vẫn tăng theo thời gian nhưng thị trường vẫn không thực hiện được chức năng chuyển hóa tiết kiệm của xã hội thành vốn cổ phần cho doanh nghiệp.
CƠ HỘI THU HÚT DÒNG TIỀN DÂN CƯ
Một cửa sổ cơ hội đang xuất hiện. Vàng, ngoại tệ và tài sản số ngày càng được đưa vào khuôn khổ quản lý, minh bạch và chuẩn hóa hơn. Thị trường bất động sản đang trải qua quá trình tái cấu trúc, với yêu cầu vốn lớn và thanh khoản không còn dễ dàng như những giai đoạn trước. Trong khi đó, tiền gửi ngân hàng vẫn là kênh tích lũy an toàn, nhưng mức lợi suất không quá cao và khó có thể một mình đáp ứng nhu cầu gia tăng tài sản dài hạn của các hộ gia đình.
Thực tế này mở ra một khoảng trống cơ hội khá lớn cho thị trường cổ phiếu trong giai đoạn 2026 - 2030: thay vì để dòng tiền dân cư tiếp tục dịch chuyển giữa các tài sản theo từng chu kỳ, thị trường cần tạo ra một môi trường thuận lợi hơn để một phần nguồn tiền này được tích lũy lâu dài trên thị trường cổ phiếu. Thị trường cần được thiết kế để đầu tư tích sản dài hạn trở thành một lựa chọn thuận tiện, có lợi ích và có mức độ bảo vệ phù hợp.
Thứ nhất, cần bổ sung mục tiêu phát triển thị trường: không chỉ chạy theo số lượng tài khoản, mà phải đo được “khả năng giữ vốn”. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán xem xét bổ sung và công bố một số chỉ tiêu theo dõi nhà đầu tư dài hạn vào hệ thống chỉ tiêu phát triển thị trường trường như tỷ lệ tài khoản có giao dịch thực tế; tỷ lệ tài khoản duy trì hoạt động sau 01 - 03 - 05 năm; giá trị tài sản được nắm giữ liên tục trên 3 năm...
Thứ hai, Bộ Tài chính có thể phối hợp với cơ quan quản lý lao động, bảo hiểm và các thành viên thị trường xây dựng khung “tài khoản đầu tư định kỳ”, cho phép người lao động tự nguyện đăng ký trích một tỷ lệ cố định từ tiền lương hàng tháng để đầu tư vào quỹ mở hoặc ETF. Ngoài ra, cần xem xét nghiên cứu mô hình Tài khoản đầu tư dài hạn (Long-term Investment Account) dành cho nhà đầu tư cá nhân. Theo đó, nhà đầu tư mở một tiểu khoản riêng trên tài khoản đầu tư chứng khoán, chỉ được đầu tư vào các sản phẩm đáp ứng tiêu chí về vốn hóa, thanh khoản và quản trị. Đổi lại, nếu tài sản được duy trì trong tài khoản tối thiểu 3 hoặc 5 năm, nhà đầu tư được hưởng một mức ưu đãi thuế, phí nhất định.
Thứ ba, có thể tham khảo các kinh nghiệm quốc tế để thiết kế lại quy định về bán giải chấp (call margin) nhằm bảo vệ thị trường chung. Thay vì để một lượng lớn cổ phiếu bị bán cưỡng bức cùng lúc trong điều kiện thị trường căng thẳng, có thể yêu cầu công ty chứng khoán xây dựng, báo cáo phương án bán phân bổ theo thời gian đối với những khoản giải chấp có quy mô lớn và hạn chế tối đa dùng lệnh thị trường (MP).
Thứ tư, các công ty chứng khoán có thể xây dựng những giao diện bảng giá riêng cho nhà đầu tư dài hạn, tập trung vào định giá, tăng trưởng lợi nhuận, dòng tiền, tỷ suất cổ tức, mức độ biến động và hiệu quả đầu tư theo thời gian, thay vì đặt trọng tâm vào biến động từng bước giá. Mục tiêu không phải hạn chế quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư, mà tạo thêm một cách tiếp cận thị trường phù hợp với mục tiêu tích sản..
Thứ năm, tăng cường giám sát thị trường và xử phạt thao túng giá. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế (Mỹ, Hàn Quốc) để sửa đổi Luật Chứng khoán và Bộ Luật Hình sự theo hướng xử phạt hình sự các hành vi thao túng giá mà không cần phải chứng minh được thu lợi bất chính. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch và cơ quan điều tra cần tăng cường hệ thống giám sát giao dịch thao túng và giao dịch nội gián dựa trên dữ liệu lớn, AI để phát hiện các mô hình giao dịch bất thường có sự kết hợp giữa giao dịch, tin đồn, khuyến nghị mua bán trên các diễn đàn, công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết, giao dịch của cổ đông nội bộ và dịch chuyển dòng tiền giữa các tài khoản có liên quan.
Sau hơn 20 năm “soi bảng điện”, có lẽ đã đến lúc thị trường cổ phiếu Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới: trở thành một hạ tầng tài chính giúp người dân tích lũy tài sản và giúp doanh nghiệp huy động được nguồn vốn dài hạn. Một thị trường hiệu quả vẫn cần những nhà đầu tư tạo thanh khoản, chấp nhận rủi ro và liên tục định giá lại tài sản. Nhưng bên cạnh lớp nhà đầu tư đó, thị trường cần hình thành một lớp nhà đầu tư dài hạn đủ lớn, được hỗ trợ bởi các sản phẩm đầu tư định kỳ, các quỹ đầu tư, hệ thống tư vấn và quản lý tài sản, cùng những cơ chế khuyến khích nắm giữ dài hạn.
*Chuyên gia độc lập




Chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm giữa Mỹ và Trung Quốc đã tăng lên mức cao nhất trong 2 thập kỷ, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa hai thị trường trái phiếu hàng đầu thế giới…
Vào thời điểm chỉ còn hơn 1 tuần nữa là tới cuộc họp chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chính quyền Tổng thống Donald Trump nối lại một chiến dịch gây sức ép mạnh mẽ nhằm ngăn chặn khả năng Fed tăng lãi suất...
Giới phân tích dự báo số liệu lạm phát của Mỹ sẽ quyết định mức độ đặt cược của nhà đầu tư vào một động thái tăng lãi suất của Fed...
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường tuần từ 7-11/8/2026.
Như vậy tính đến ngày 3/9/2026, danh sách chứng khoán không đủ điều kiện giao dịch ký quỹ của HOSE tăng lên 69 mã - trong đó phần lớn là các cổ phiếu quen thuộc nằm trong diện bị cảnh báo, kiểm soát, hạn chế hoặc đình chỉ giao dịch như APG, APH, DQC, DGC, HVN...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.