
Thậm chí, mức thâm hụt ngày càng có xu hướng tăng mạnh, khi năm 2016 mới chỉ là 373 triệu USD nhưng sang năm 2017 cán cân thương mại với Indonesia đã thâm hụt lên đến 798 triệu USD.
Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018, tổng trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Indonesia đạt 4,66 tỷ USD, tăng 27,6% so với cùng thời gian năm 2017. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 2,16 tỷ USD, tăng 32,5% và nhập khẩu hàng hóa là 2,49 tỷ USD, tăng 23,7%.
Cũng trong 7 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp Việt xuất khẩu sang thị trường này là hơn 2,2 nghìn doanh nghiệp và nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Indonesia là hơn 4,2 nghìn doanh nghiệp.
Trước đó, năm 2017, Indonesia là quốc gia xếp thứ 13 trong hơn 200 đối tác thương mại của Việt Nam trên thế giới. Xét trong khối ASEAN, Indonesia là quốc gia xếp thứ 4 trong trao đổi thương mại hàng hóa với Việt Nam, đứng sau Thái Lan, Malaysia và Singapore.
Tính riêng trong năm 2017, tổng trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Indonesia chính thức đạt 6,52 tỷ USD, tăng 16,3% so với kết quả thực hiện trong năm 2016. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Indonesia đạt 2,86 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm 2016, chiếm 1,3% tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang tất cả các đối tác thương mại trong năm 2017.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Indonesia vào Việt Nam đạt 3,66 tỷ USD, tăng 22,4% so với năm 2016, chiếm 1,7% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước trong năm 2017.
Tính toán của Tổng cục Hải quan từ số liệu của Tổ chức Thương mại thế giới cũng cho thấy, trong năm 2016, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chiếm 1,9% thị phần hàng hóa nhập khẩu của Indonesia và xuất khẩu hàng hóa của Indonesia sang Việt Nam chiếm khoảng 2% thị phần xuất khẩu hàng hóa của nước này sang tất cả các nước.
Tuy nhiên điểm đáng lưu ý là nếu như trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam luôn thặng dư cán cân thương mại trong trao đổi hàng hóa với Indonesia thì trong 2 năm trở lại đây (năm 2016 và năm 2017), cán cân thương mại hàng hóa lại đảo chiều sang trạng thái thâm hụt.
Cụ thể, mức xuất siêu hàng hóa của Việt Nam sang Indonesia trong giai đoạn 2011-2015 lần lượt là 111 triệu USD, 110 triệu USD, 80 triệu USD, 397 triệu USD và 111 triệu USD. Chuyển sang các năm 2016 và năm 2017, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thâm hụt về phía Việt Nam và có xu hướng tăng với các mức lần lượt là 373 triệu USD và 798 triệu USD.
Diễn biến thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với Indonesia trong giai đoạn 2011-2017.
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường lớn thứ mười châu Á này trong năm qua chủ yếu chú trọng vào các nhóm hàng như điện thoại các loại và linh kiện đạt 516 triệu USD, giảm 18% và chiếm 18% tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia.
Tiếp theo là sắt thép các loại với 448 triệu USD, tăng 36,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 249 triệu USD, tăng 15,8%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 220 triệu USD, tăng 44,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 192 triệu USD, tăng 17,2%...
Ngược lại, các mặt hàng nhập khẩu chính có xuất xứ từ Indonesia trong năm 2017 bao gồm than các loại với 407 triệu USD, tăng mạnh 172,6%; ô tô nguyên chiếc các loại đạt 294 triệu USD, tăng gấp 5,5 lần (năm 2016 chỉ là 44,9 triệu USD); kim loại thường khác: đạt 254 triệu USD, tăng 20,1%...
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong ấn phẩm thường niên Trade Profiles 2017 ghi nhận về thứ hạng thương mại toàn cầu trong năm 2016 thì Indonesia đứng thứ 30 về xuất khẩu và đứng thứ 32 về nhập khẩu hàng hóa trên thế giới.
Trong đó, xuất nhập khẩu của đảo quốc này tập trung vào các nhóm hàng sản phẩm chế tạo (chiếm tỷ trọng 44,1% đối với xuất khẩu và 65,1% đối với nhập khẩu). Cũng theo WTO, trong năm 2016, Indonesia xuất khẩu hàng hóa trị giá 144,49 tỷ USD và nhập khẩu hàng hóa trị giá 135,65 tỷ USD, dẫn đến việc nước này có thặng dư cán cân thương mại hàng hóa trị giá 8,84 tỷ USD.
Cũng theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới, Trung Quốc là đối tác nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Indonesia với tỷ trọng chiếm 11,6%. Các thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn của Indonesia tiếp theo là Hoa Kỳ chiếm 11,2%; Nhật Bản chiếm 11,1%; Liên minh châu Âu (EU28) chiếm 10%…
Ở chiều ngược lại, Indonesia chủ yếu nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc với tỷ trọng là 22,7%; tiếp theo là các nguồn hàng hóa có xuất xứ từ Singapore chiếm 10,7%; Nhật Bản chiếm 9,6%; EU (28) chiếm 7,9%; Thái Lan chiếm 6,4%…
Về xuất nhập khẩu dịch vụ, WTO ghi nhận Indonesia đứng thứ 40 về xuất khẩu dịch vụ và đứng thứ 32 về nhập khẩu dịch vụ trên thế giới.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.