
Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam là một trong những nước có sản lượng nước mắm vào loại cao trên thế giới với sản lượng khoảng 180 triệu lít/năm. Những thông tin về việc trong nước mắm chứa urê có thể gây độc, gây ung thư đã khiến cho không ít người dân hoang mang.
Tại cuộc toạ đàm “Urê trong nước mắm bao nhiêu thì gây hại” được tổ chức tại báo Khoa học đời sống (ngày 6/9), một số nhà khoa học cho rằng, chưa có tài liệu nào khẳng định urê “nội sinh” trong nước mắm gây hại đến sức khoẻ.
Nước mắm tất nhiên phải có urê?
Đó là nhận định thống nhất của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp sản xuất nước mắm tại cuộc tọa đàm. Lý giải điều này, Chủ tịch Hội đồng quản trị doanh nghiệp nước mắm Tâm Đức - Trần Quyết Tiến cho hay: “Tôi có thể khẳng định rằng, phần lớn nước mắm được làm ra từ những loại cá bé như cá cơm, chủ yếu là loại cá đánh bắt gần bờ, người ta có thể đánh bắt sáng, chiều về đổ hàng luôn chứ không phải ướp chất bảo quản.
Vả lại không ai người ta cho urê vào cá con trước khi sản xuất nước mắm vì như thế sẽ ức chế quá trình lên men phân huỷ tự nhiên chất làm ra nước mắm. Ngoài ra, bản thân trong cá tươi đã có từ 15-17% hàm lượng đạm thô là nguồn gây ra urê “nội sinh” trong nước mắm”.
Đồng tình với ý kiến này, Tiến sĩ Trương Hương Lan - Chủ nhiệm môn Thực phẩm và Dinh dưỡng-Viện Công nghiệp thực phẩm (Bộ Công thương) cho hay, trong quá trình sản xuất nước mắm theo công thức cá ướp muối tất yếu sẽ phát sinh một hàm lượng urê nhất định, được hình thành do quá trình thuỷ phân đạm trong nguyên liệu cá.
Hàm lượng urê này rất khác nhau, phụ thuộc vào cá ươn hay cá tươi hoặc phụ thuộc vào qui trình chế biến. Lượng urê “nội sinh” này rất nhỏ và nếu như người tiêu dùng chỉ sử dụng nước mắm như một loại gia vị (làm nước chấm, cho vào canh, xào, nấu, ướp) thì không gây hại cho sức khoẻ.
Ngay cả bộ tiêu chuẩn về thực phẩm quốc tế Codex cũng cho phép hàm lượng urê trong thực phẩm là 5mg/kg. Đến nay, vẫn chưa có một tài liệu nào chính thức công bố về tác hại của urê trong nước mắm đối với cơ thể con người nên người tiêu dùng có thể yên tâm khi sử dụng nước mắm, mà không lo ngại về sức khỏe nếu đúng là nước mắm chỉ chứa urê “nội sinh”.
Mặc dù urê “nội sinh” không gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, song các nhà khoa học đều thừa nhận urê có thể được nhà sản xuất được bổ sung từ bên ngoài dưới dạng phân đạm để làm tăng độ đạm của nước mắm hoặc sử dụng cá đã ướp urê để làm nguyên liệu trong quá trình sản xuất nước mắm thì đây là nguyên nhân dẫn đến làm tăng hàm lượng urê trong nước mắm thành phẩm và điều nguy hại ở chỗ, urê trong phân đạm thường có lẫn tạp chất kim loại nặng như asen, chì, thuỷ ngân, niken... đây là những chất có hại cho sức khoẻ con người.
Chờ đợi các nhà khoa học nghiên cứu rõ ràng
Trong khi đó, những phương pháp xét nghiệm của Việt Nam hiện nay đều không thể xác định được đâu là urê hình thành trong quá trình thủy phân đạm để sản xuất nước mắm và đâu là urê cho thêm vào. Đồng thời chưa có nghiên cứu khoa học nào về hàm lượng urê cao nhất và thấp nhất sinh ra trong quá trình sản xuất nước mắm.
Chính điều này đã làm cho cơ quan quản lý lúng túng trong việc xử lý những sản phẩm nước mắm có hàm lượng urê cao bởi không có một khung tiêu chuẩn rõ ràng. TS. Trương Hương Lan nhận xét, kiến nghị áp dụng tiêu chuẩn hàm lượng urê 0,05g/ 1 lít nước mắm của Hiệp hội lương thực thực phẩm hay tiêu chuẩn Codex cho phép có 5mg ure/1 kg thực phẩm chỉ có tính chất tham khảo.
Quan trọng hơn, các cơ quan chức năng cần phải tiến hành các nghiên cứu xác định hàm lượng urê có trong nước mắm làm từ cá sạch (cá đã bảo quản bằng urê) theo quy trình không bổ sung urê để có được định mức hàm lượng urê có trong nước mắm.
Tuy nhiên, khuyến cáo quan trọng nhất của các nhà khoa học là cần phải cấm triệt để việc sử dụng phân đạm trong sản xuất nước mắm và trong bảo quản thực phẩm. Kiểm soát được vấn đề này thì mối lo ngại về urê trong nước mắm cũng như khả năng đóng cửa của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mặt hàng này sẽ không còn nữa.
Vì vậy, việc nhanh chóng có được bộ tiêu chuẩn cụ thể về hàm lượng ure trong nước mắm có lẽ là công việc quan trọng hàng đầu của các cơ quan quản lý, nghiên cứu hiện nay.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.