
Do dư chấn khủng hoảng từ 2008 đến nay, ngành vận tải biển thế giới vẫn chìm trong khó khăn, nhiều hãng tàu lớn thua lỗ, phá sản hoặc phải sáp nhập để duy trì hoạt động. Tại Việt Nam, nhờ tái cơ cấu đúng hướng, ngành vận tải biển đã bắt đầu tăng trưởng dương.
Đây là những tín hiệu tích cực được công bố tại "Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai kế hoạch, nhiệm vụ năm 2018" của Cục Hàng hải Việt Nam, diễn ra cuối tuần qua, tại Hà Nội.
Tại hội nghị, ông Bùi Thiên Thu, Phó cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cho biết, năm 2017, tổng sản lượng vận tải do đội tàu biển Việt Nam thực hiện ước đạt 130,9 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2016. Hiện đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam đã đảm nhận được gần 100% lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển (trừ một số tàu chuyên dụng như LPG, xi măng rời...).
Do những ưu thế về giá cước so với các loại hình vận tải khác trong khoảng cách từ 300-500km và các bến cảng thuỷ nội địa sâu trong sông kết nối với cảng biển nên đội tàu VR-SB đã phát huy hiệu quả tích cực.
Từ năm 2014 đến tháng 12/2017 đã vận tải 36,2 triệu tấn. Riêng năm 2017, tổng lượng tàu thông qua đạt 22 nghìn lượt (tăng 67% so với năm 2016); khối lượng hàng hoá đạt 18,5 triệu tấn (tăng 56% so với năm 2016).
Về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Công cho rằng, với các đơn vận tải hàng đường dài, vận đơn lớn, tàu lớn chủ yếu do các hãng tàu lớn thế giới nắm giữ là điều không khó đoán. Trong bối cảnh vận tải biển thế giới còn khó khăn thì "miếng bánh" đó sẽ các hẹp lại, các hãng tàu lớn cũng đang cạnh tranh khốc liệt, hoặc phá sản.
Thứ trưởng Công cũng chỉ ra những tồn tại mà ngành hàng hải cần khắc phục như: đội tàu còn nhỏ lẻ, manh mún, cơ cấu chưa phù hợp, vì thế, đội tàu Việt Nam sẽ ưu tiên tập trung thế mạnh tại các mặt hàng truyền thống, hàng rời, các tuyến vận tải có đủ năng lực. "Dù còn nhiều khó khăn, nhưng năm 2017, vận tải biển đã tăng 6% so với năm 2016 là kết quả rất tích cực, báo hiệu sự khởi sắc cho vận tải biển", Thứ trưởng Công đánh giá
Ông Bùi Thiên Thu cũng cho biết, năm 2017, hệ thống cảng biển đạt mức tăng trưởng cao, ước đạt 536,4 triệu tấn (tăng 17% so với năm 2016). Dù đây là con số tích cực nhưng chưa có sức lan toả tốt vì thiếu "chuỗi" phát triển logistics.
Ông Thu nhấn mạnh về sự kiện Thời báo Kinh tế Việt Nam vừa tổ chức hội thảo thực trạng logistic Việt Nam, trong đó, chỉ rõ các cảng biển, các cảng cạn (ICD) là trung tâm, đầu mối phát triển logistic nhưng lại thiếu tính kết nối giữa đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt, hàng không... dẫn đến tăng chi phí giá thành.
Chất lượng cảng biển chưa cao, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do chi phí cảng biển, chi phí xếp dỡ thấp. Thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa thực sự thuận lợi cho chủ tàu, chủ hàng.
Ông Thu đánh giá, cả nước hiện có tới 1.300 doanh nghiệp tham gia cung cấp các loại hình dịch vụ hàng hải và losgistic, tuy nhiên, đa phần chỉ là hợp tác và cung cấp dịch vụ logistic cho bên thứ 2, trong đó, nắm chủ chốt vẫn là các công ty logistics lớn của nước ngoài.
Đánh giá về những tồn tại, vướng mắc trong chuỗi phát triển logistics, Thứ trưởng Nguyễn Văn Công cho biết, Năm 2017, đánh dấu lần đầu tiên cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải đón tàu trọng tải lên đến 200.000 tấn. Đây là sự kiện lớn đánh dấu cụm cảng Cái Mép - Thị Vải nằm trong tuyến luồng hàng hải quan trọng của thế giới.
Thứ trưởng Công cũng đánh giá cao, cơ chế một cửa quốc gia tại 9 khu vực cảng biển để thực hiện thủ tục điện tử cho tàu thuyền Việt Nam và tàu thuyền nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh và quá cảnh đã được áp dụng.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.