Thưa ông, đã gần bảy tháng trôi qua kể từ khi Suzlon bắt đầu tích cực tìm hiểu các cơ hội tại Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về triển vọng hiện nay của thị trường điện gió Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và các mục tiêu chuyển dịch năng lượng dài hạn của Việt Nam?
Trong khu vực châu Á, Việt Nam nổi bật với những mục tiêu đầy tham vọng trong lĩnh vực năng lượng sạch. Hiện nay, gần 24 GW công suất năng lượng tái tạo đã đi vào vận hành, trong đó có khoảng 7 GW điện gió đang hoạt động. Việt Nam cũng đã đề ra mục tiêu rất mạnh mẽ về chuyển đổi năng lượng xanh đến năm 2035 thông qua việc tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo. Đây là thị trường năng lượng tái tạo tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực. Là một trong những doanh nghiệp tiên phong tại châu Á trong lĩnh vực này, Suzlon đã mở rộng hoạt động tại nhiều thị trường trong khu vực, với danh mục sản phẩm từ 2 MW đến gần 6 MW, chủ yếu tập trung vào điện gió trên bờ.
Chúng tôi nhận thấy thị trường điện gió trên bờ và gần bờ tại Việt Nam cũng rất hấp dẫn. Đây là lĩnh vực có khả năng phát triển mạnh trong tương lai gần và chúng tôi rất tin tưởng rằng Suzlon có thể đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới.
Suzlon nhìn nhận Việt Nam chủ yếu là một thị trường tiêu thụ turbin gió tiềm năng hay là một trung tâm sản xuất và dịch vụ chiến lược cho khu vực Đông Nam Á trong tương lai, thưa ông?
Là thị trường lớn nhất Đông Nam Á, Việt Nam có một vị thế rất đặc biệt bởi đây là một trong những quốc gia đi đầu với quy mô đội tàu điện gió lắp đặt thuộc hàng lớn nhất khu vực, khoảng 7 GW. Việt Nam có vị thế rất phù hợp để đóng vai trò khu vực.
Tôi cho rằng bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam đều có lý do để sử dụng Việt Nam như một trung tâm khu vực. Vì vậy, Suzlon không chỉ tập trung vào việc cung cấp turbin gió mà còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ liên quan đến turbin gió; đồng thời, Việt Nam sẽ làm căn cứ cho các hoạt động tại các thị trường khác ở châu Á.
Nếu điều kiện thị trường thuận lợi, Suzlon có cân nhắc xây dựng cơ sở sản xuất hoặc trung tâm dịch vụ kỹ thuật đầu tiên tại Việt Nam trong giai đoạn 2027-2030 hay không?
Hiện nay, chúng tôi đang ở giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng hiện diện tại Việt Nam. Đây là giai đoạn mà chúng tôi đang kết nối với các nhà phát triển dự án và khách hàng chủ chốt để tìm hiểu cách thức xây dựng các danh mục dự án dài hạn cùng với họ.
Khi những kết quả đầu tiên xuất hiện, tôi cho rằng hoạt động dịch vụ sẽ phát triển trước, sau đó là hoạt động bán turbin mới. Từ đó, chúng tôi sẽ xem xét cách thức xây dựng hệ sinh thái chuỗi cung ứng tại Việt Nam, không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn phục vụ toàn khu vực.
Suzlon đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Ấn Độ phát triển hệ sinh thái sản xuất điện gió trong nước. Từ kinh nghiệm đó, theo ông, Việt Nam có thể học hỏi những bài học gì để xây dựng chuỗi cung ứng và các ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành điện gió?
Tôi cho rằng hiện nay Việt Nam đang có một cơ hội rất tốt để áp dụng một số kinh nghiệm mà chúng tôi đã thực hiện tại Ấn Độ.
Thứ nhất, để bất kỳ thị trường nào có thể phát triển mạnh mẽ và bền vững, điều quan trọng nhất là phải có chính sách ổn định. Việt Nam đã có tầm nhìn rõ ràng và chính sách tương đối ổn định, đây là yếu tố hết sức quan trọng.
Thứ hai, phải bảo đảm có hạ tầng phù hợp để phát triển ngành. Điều đó bao gồm hạ tầng lưới điện, hạ tầng cảng biển và các hạ tầng khác cần thiết để thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tái tạo.
Thứ ba, phát triển thị trường, tạo ra nhu cầu cho việc sử dụng năng lượng tái tạo và quá trình chuyển dịch năng lượng.
Khi nói đến việc xây dựng hệ sinh thái sản xuất, tôi cho rằng cần triển khai quá trình nội địa hóa theo từng giai đoạn, nếu không có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng. Do đó, trong khi thị trường đang phát triển, điều quan trọng là không làm chậm đà tăng trưởng mà cần từng bước xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ và hệ sinh thái công nghiệp trên khắp Việt Nam để cùng hưởng lợi từ sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo.
Nhiều dự án điện gió tại Việt Nam hiện đã bước vào giai đoạn vận hành và cần các dịch vụ bảo trì chuyên nghiệp. Suzlon đánh giá như thế nào về tiềm năng của thị trường vận hành và bảo dưỡng (O&M) tại Việt Nam, thưa ông?
Hiện nay, Việt Nam đã có 7 GW công suất điện gió lắp đặt. Suzlon hiện đang vận hành khoảng 21,5 GW công suất điện gió trên toàn cầu tại khoảng 17 quốc gia. Trong đó, phần lớn đội tàu điện gió này nằm tại châu Á.
Chúng tôi có năng lực chuyên môn rất mạnh trong lĩnh vực này và cũng có lợi thế về khoảng cách địa lý gần với Việt Nam. Tôi cho rằng quan hệ hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam hiện nay rất tốt. Hai quốc gia đang có mối quan hệ đối tác tích cực. Chúng ta có thể tận dụng điều đó để xây dựng một hệ sinh thái mang lại lợi ích chung cho cả hai bên.
Hoạt động dịch vụ chắc chắn là một mảng rất quan trọng và Suzlon có thế mạnh lớn trong lĩnh vực này. Chúng tôi luôn tin rằng thành công không chỉ ở việc lắp đặt turbin mà còn là bảo đảm các dự án liên tục tạo ra điện xanh trong suốt vòng đời vận hành, từ đó giúp các nhà đầu tư tiếp tục tái đầu tư vào năng lượng tái tạo.
Hiện nay, gần 90% hoạt động kinh doanh của Suzlon đến từ các khách hàng tiếp tục quay lại hợp tác, chủ yếu vì họ hài lòng với hiệu quả hoạt động của Suzlon.
Các nhà sản xuất turbin gió Trung Quốc đang mở rộng rất nhanh tại châu Á nhờ lợi thế giá cả cạnh tranh. Suzlon tạo sự khác biệt và cạnh tranh như thế nào tại các thị trường như Việt Nam?
Tính cạnh tranh về chi phí và khả năng chi trả của năng lượng là những yếu tố hết sức quan trọng. Điểm khác biệt của Suzlon là các sản phẩm 5 MW và 6 MW mà chúng tôi vừa giới thiệu tại hội nghị này dành cho thị trường châu Á, thuộc nền tảng Blue Sky, đều được thiết kế riêng để đáp ứng đặc điểm nguồn gió, yêu cầu lưới điện và điều kiện khí hậu của khu vực.
Turbin 5 MW được tối ưu cho các khu vực có tốc độ gió thấp nhằm khai thác tối đa sản lượng điện. Trong khi đó, turbin 6 MW được thiết kế cho các khu vực có tốc độ gió cao hơn, khoảng 8-9 m/s. Với sự kết hợp của hai dòng sản phẩm này, hiện nay chúng tôi có thể đáp ứng khoảng 90% các vị trí điện gió tại châu Á. Do đó, năng lực cạnh tranh của Suzlon không chỉ đến từ giá thành mà còn từ giá trị mang lại cho khách hàng.
Nhiều người chỉ nhìn vào chi phí đầu tư ban đầu, nhưng cần xem xét cả chi phí vòng đời dự án hay còn gọi là LCOE. Tôi cho rằng sản phẩm của Suzlon có khả năng cạnh tranh rất cao xét trên chi phí vòng đời của turbin, tức chi phí sản xuất điện trên mỗi kWh sẽ cạnh tranh với bất kỳ sản phẩm nào khác. Hai dòng sản phẩm này thực sự là những cỗ máy mạnh mẽ với hiệu suất rất cao.
Suzlon đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng toàn cầu và chuyển đổi kinh doanh mới. Trong chiến lược quốc tế dài hạn của Suzlon, ông hình dung Việt Nam sẽ đóng vai trò như thế nào trong 5-10 năm tới?
Chúng tôi đang bước vào một giai đoạn mới mang tên Suzlon 2.0, trong đó Suzlon sẽ mở rộng mạnh mẽ hoạt động trên thị trường toàn cầu. Chúng tôi cũng sẽ phát triển vượt ra ngoài lĩnh vực điện gió. Mục tiêu là kết hợp điện gió, điện mặt trời và lưu trữ năng lượng để tạo ra nguồn năng lượng tái tạo ổn định.
Chúng tôi sẽ làm việc với các đối tác để xây dựng những kế hoạch dài hạn, không chỉ cho một hay hai năm hoặc từng dự án riêng lẻ, mà là những mối quan hệ hợp tác kéo dài cả thập kỷ nhằm cùng xây dựng danh mục đầu tư năng lượng bao gồm điện gió, điện mặt trời và lưu trữ năng lượng. Suzlon sẽ đóng vai trò là đối tác kỹ thuật, đối tác vận hành và nhà cung cấp dịch vụ trọn gói.
Việt Nam có vị thế đặc biệt nhờ quá trình phát triển năng lượng tái tạo đi trước nhiều quốc gia khác trong khu vực. Chúng tôi sẽ tận dụng lợi thế đó để hỗ trợ chiến lược phát triển thị trường châu Á của Suzlon.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 25-2026 phát hành ngày 22/06/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-25-2026.html
Dù tiêu thụ 80% nguyên liệu rừng trồng, dăm gỗ và viên nén chỉ mang lại 3-4 tỷ USD trong tổng 18 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ. Trái lại, chế biến sâu chỉ dùng 20% nguyên liệu nhưng tạo ra giá trị xuất khẩu tới 14-15 tỷ USD. Chuỗi liên kết lỏng lẻo đang là điểm nghẽn lớn cản trở ngành trồng rừng - chế biến gỗ nâng cao giá trị gia tăng.
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, việc tháo gỡ điểm nghẽn cho các ngành kinh tế mũi nhọn là yêu cầu cấp bách. Từ áp lực thuế quan đối với ngành dệt may, gỗ, bài toán chi phí của ngành điện tử, phân bón đến những rào cản pháp lý trong bán lẻ và thương mại điện tử, đại diện các hiệp hội ngành hàng đồng loạt đưa ra nhiều đề xuất nhằm khơi thông nguồn lực và kiến tạo động lực phát triển mới.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.