
Tuy nhiên xét về trị giá thì xăng dầu nhập khẩu năm 2018 đã tăng 8,6% so với năm 2017 khi đạt 7,64 tỷ USD, mức giá trung bình là 668,2 USD/tấn.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, Việt Nam nhập khẩu xăng dầu nhiều nhất từ thị trường Malaysia, với 3,28 triệu tấn, tương đương 2,05 tỷ USD. Như vậy, nhập khẩu xăng dầu từ thị trường này đã tăng mạnh 25,8% về lượng và 64,5% về kim ngạch.
Nhập khẩu xăng dầu từ Malaysia cũng chiếm 28,7% tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước và chiếm 26,9% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này.
Thị trường mà Việt Nam nhập khẩu xăng dầu nhiều thứ hai trong năm 2018 là Hàn Quốc, với 2,42 triệu tấn, tương đương 1,79 tỷ USD, giảm 20% về lượng và giảm 6% về kim ngạch so với năm 2017.
Nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc chiếm 21,2% tổng lượng và 23,5% tổng kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam.
Thứ ba là thị trường Singapore. Nhập khẩu xăng dầu từ thị trường này đã có sự sụt giảm mạnh trong năm 2018, khi giảm đến 44,2% về lượng và giảm 29% về kim ngạch so với năm 2017.
Nhập khẩu xăng dầu từ Singapore năm 2018 đạt 2,4 triệu tấn, trị giá 1,53 tỷ USD, chiếm 21% trong tổng lượng và tổng kim ngạch.
Tiếp đó là thị trường Trung Quốc và Thái Lan, với lượng nhập khẩu đều đạt 1,4 triệu tấn với kim ngạch lần lượt là 1 tỷ USD và 991.000 USD. Nhập khẩu xăng dầu tại thị trường Trung Quốc đã tăng mạnh 49% về lượng và 93% về trị giá trong năm 2018. Trong khi đó, nhập khẩu từ Thái Lan lại giảm 15% về lượng và tăng 5% về trị giá so với năm 2017.
Đáng chú ý, mặc dù là thị trường đứng thứ 6 nhưng nhập khẩu xăng dầu từ Nga lại có sự tăng trưởng vượt bậc trong năm 2018, cũng là thị trường có mức tăng cao nhất trong tất cả các thị trường cung cấp xăng dầu cho Việt Nam.
Cụ thể, nhập khẩu xăng dầu từ Nga đạt 128.000 tấn, trị giá gần 110.000 USD, tăng đến 255% về lượng và 402% về trị giá so với năm 2017.
Trong năm 2018, có thêm một thị trường mới cung cấp xăng dầu cho Việt Nam là Hồng Kông. Nhập khẩu xăng dầu từ thị trường này khá khiêm tốn khi chỉ đạt 102 tấn, trị giá hơn 61.000 USD.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.