Tại diễn đàn “Bức tranh đầu tư tại Việt Nam: An toàn pháp lý, quản trị rủi ro và giải quyết tranh chấp” được tổ chức ngày 27/5/2026 trong khuôn khổ Tuần lễ Trọng tài và Hòa giải Việt Nam 2026, GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho biết trong những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục được nhìn nhận là một điểm đến đầu tư nhiều tiềm năng trong khu vực bất chấp các biến động toàn cầu.
THỂ CHẾ PHÁP LUẬT LÀ ĐIỂM NGHẼN
Những thành tựu này gắn liền với các chính sách kinh tế cởi mở, nền chính trị ổn định và mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng. Minh chứng là năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước, trong đó vốn thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm qua.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng này, yêu cầu đối với tính ổn định, minh bạch và khả năng dự đoán của môi trường pháp lý ngày càng cao. GS. TS Lê Hồng Hạnh thẳng thắn chỉ ra rằng điểm nghẽn của nền kinh tế về cơ bản nằm trong thể chế, đặc biệt là yếu tố pháp luật và thi hành pháp luật.
“Thể chế là điểm nghẽn của những điểm nghẽn. Không ai muốn đầu tư, muốn trở thành đối tác của doanh nghiệp Việt Nam, của các cơ quan nhà nước với tư cách là chủ đầu tư công nếu họ đi trên "tấm thảm đỏ" thể hiện sự nghênh đón để rồi đi vài bước mới biết rằng ở dưới tấm thảm đó có đinh”, GS. TS Lê Hồng Hạnh nhận định.
Theo Chủ tịch VIAC, để tăng trưởng bền vững và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, "luật chơi" phải phù hợp, minh bạch và công bằng để nhà đầu tư có thể tiên liệu, nhận diện cũng như kiểm soát được rủi ro.
Ở góc độ đại diện doanh nghiệp, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết Việt Nam đang bước vào chu kỳ cải cách thể chế sâu rộng nhất nhiều năm qua. Trong đó, Nghị quyết 66-NQ/TW được coi là “cuộc cách mạng tư duy lập pháp”, giúp tạo không gian an toàn hơn cho hoạt động đầu tư nhờ cắt giảm thủ tục hành chính, giảm tiền kiểm và tăng hậu kiểm.
Dù vậy, ông Đậu Anh Tuấn lưu ý điều doanh nghiệp cần hiện nay không chỉ là tốc độ cải cách mà là tính ổn định và khả năng dự đoán chính sách. Khảo sát PCI 2025 cho thấy một con số đáng suy ngẫm: chỉ khoảng 6-8% doanh nghiệp có thể thường xuyên dự đoán được thay đổi chính sách; nhiều quy định có thời gian hiệu lực quá ngắn khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn.
Đồng quan điểm về thách thức trong tiếp cận thông tin, bà Natalie Fairlie, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Australia tại Việt Nam (Auscham), cho biết có tới 49% doanh nghiệp Australia tại Việt Nam gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin phục vụ hoạt động đầu tư, kinh doanh. Bà khuyến nghị các quy định mới của Việt Nam cần có lộ trình chuyển tiếp hợp lý để doanh nghiệp thích ứng thuận lợi hơn.
NÂNG CAO NĂNG LỰC PHÒNG NGỪA RỦI RO, HẠN CHẾ TRANH CHẤP
Các diễn giả tại diễn đàn đồng tình cho rằng trong thực tiễn, rủi ro pháp lý không còn chỉ xuất hiện ở giai đoạn phát sinh tranh chấp mà hiện diện ngay từ quá trình xây dựng mô hình đầu tư, lựa chọn đối tác, đàm phán hợp đồng cho đến vận hành. Nhiều tranh chấp xảy ra không nhất thiết vì xung đột lợi ích, mà vì rủi ro pháp lý không được nhận diện đầy đủ hoặc kiểm soát kịp thời ngay từ đầu.
Luật sư Vũ Lê Bằng, Luật sư thành viên Nishimura & Asahi Việt Nam, chỉ ra một trong những rủi ro phổ biến hiện nay là sự thiếu thống nhất giữa các loại giấy tờ pháp lý (giấy chứng nhận đầu tư, giấy đăng ký doanh nghiệp, điều lệ, thỏa thuận cổ đông...) hoặc các phiên bản hợp đồng đa ngôn ngữ chưa điều chỉnh phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Trước thực trạng đó, luật sư Vũ Lê Bằng khuyến nghị: “Chiến lược tốt nhất với doanh nghiệp là chuẩn bị cho tranh chấp trước khi tranh chấp phát sinh. Điều này bao gồm việc xây dựng hệ thống quản trị pháp lý, lưu trữ chứng cứ, kiểm soát hợp đồng và chủ động lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp”.
Khi rủi ro xảy ra, các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR) như trọng tài thương mại và hòa giải đang ngày càng được ưu tiên. Theo khảo sát quốc tế, 48% doanh nghiệp ưu tiên kết hợp trọng tài và ADR nhờ tính linh hoạt, bảo mật và khả năng duy trì quan hệ kinh doanh. Tại Việt Nam, số vụ tranh chấp tại VIAC có liên quan đến FDI và nhà đầu tư nước ngoài đã chiếm tới 48,5% tổng số vụ trong năm 2025, phản ánh xu hướng các doanh nghiệp quốc tế ngày càng coi trọng cơ chế giải quyết chuyên nghiệp, trung lập tại nội địa.
Ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống giải quyết tranh chấp hiệu quả là nền tảng quan trọng khi Việt Nam hướng tới triển khai các nghị quyết lớn và phát triển trung tâm tài chính quốc tế. Nhà đầu tư nước ngoài không muốn phải sang Singapore, Hồng Kông hay Anh để giải quyết tranh chấp cho các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Do đó, trọng tài thương mại Việt Nam cần trở thành thiết chế uy tín, đạt chuẩn quốc tế. Để làm được điều này, bên cạnh nỗ lực của các trung tâm trọng tài, rất cần vai trò hỗ trợ của Bộ Tư pháp, hệ thống tòa án để bảo đảm phán quyết trọng tài được tôn trọng và thi hành hiệu quả.
Khép lại vấn đề, GS.TS Lê Hồng Hạnh khẳng định mục tiêu của VIAC không phải là tìm kiếm nhiều tranh chấp hơn, mà là hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp và xây dựng môi trường kinh doanh an toàn.
“Một cơ chế hiệu quả là phải tạo dựng được niềm tin cho doanh nghiệp ngay từ giai đoạn trước tranh chấp, và khi tranh chấp không thể tránh khỏi, nó phải đủ chuyên nghiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên cũng như duy trì tính liên tục của hoạt động kinh doanh”, GS.TS Lê Hồng Hạnh nhấn mạnh.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.