
Quy trình công nghệ xử lý nước thải đang áp dụng ở Liên doanh Nhà máy Bia Đông Nam á (SEAB) có thể sử dụng cho trạm xử lý nước thải chung của một số khu công nghiệp tại các địa phương, hay của các quận, huyện khác trên cả nước.
Với sản lượng 55 triệu lít bia/năm, SEAB có lượng nước thải công nghiệp lên tới 600 m3/ngày. Bằng việc đầu tư hệ thống trạm xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến, hoàn chỉnh cùng một phần mềm chuyên dụng, SEAB đã tự động hóa toàn bộ quá trình xử lý nước thải, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường xung quanh.
Tổng giá trị của phần mềm và hệ thống trạm xử lý nước thải lên tới gần 1 triệu USD. Ông Nguyễn Văn Cường, Phó giám đốc kỹ thuật SEAB, cho biết: “Nhà máy đầu tư gần 1 triệu USD cho một hệ thống không làm ra lợi nhuận, bởi đây là chính sách của công ty không chỉ nâng cao chất lượng, số lượng, tạo giá cạnh tranh thành phẩm mà còn giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường xung quanh”.
Trong nhà máy, nước thải theo hệ thống cống thu gom vào hầm bơm. Một hộp chắn rác được đặt ở đầu hầm bơm. Theo quy trình của phần mềm điều khiển, nước thải qua hầm bơm vào bể trung hòa.
Quá trình xử lý nước thải bao gồm việc điều chỉnh độ pH, xử lý kỵ khí, xử lý hiếu khí, xử lý bùn. Hệ thống điều chỉnh độ pH được lắp trên đường ống kèm theo bơm điều chỉnh tự động HCl và NaOH. Hệ thống có khả năng tự điều hòa nước trong bể để giữ cho độ pH luôn trong khoảng từ 4,5 đến 8,5.
Nước thải sau đó tiếp tục chảy từ bể trung hòa vào buồng phản ứng Metan kỵ khí kiểu UASB (lọc nhỏ giọt để xử lý nước thải). Buồng này được trang bị một máy tách ba pha đặc biệt được bố trí tại nóc buồng. Sau khi dâng lên qua tầng bùn trải rộng của lớp bùn, sinh khối hoạt hóa kỵ khí (gọi là sàn bùn), hỗn hợp nước - bùn thải đi qua một máy phân loại, tách ba pha phía trong đặt tại đỉnh của buồng phản ứng.
Kết quả của quá trình tách hỗn hợp nước - bùn là tạo ra được nước trong, khí biogas và bùn. Lượng bùn rời khỏi buồng phản ứng UASB đi sang bể xử lý hiếu khí. Bùn được đưa vào máy ép cơ khí kiểu máy ép lọc dây đai. Còn khí biogas được thông liên tục bằng một quạt gió tới nhà nồi hơi để tái sử dụng như nguồn nhiên liệu cho một trong các nồi hơi dùng cho nhà máy bia.
Toàn bộ quy trình xử lý nước thải nêu trên có thể theo dõi trực tiếp trên màn hình máy tính, thông qua phần mềm có tên FVH. Đồng thời, việc điều chỉnh tự động lượng các chất làm trung hòa cũng thực hiện ngay trên máy tính theo các thông số cài đặt trước.
Không chỉ dừng lại ở việc xử lý nước thải, SEAB cũng quan tâm đến việc khử mùi hôi. Sau khi tham khảo kinh nghiệm của một số doanh nghiệp ở Nam Kinh, Trung Quốc cũng như ở Đông Nam Á, SEAB đã sử dụng cơ cấu lọc sinh học để khử mùi tạo ra do quá trình xử lý kỵ khí.
Trạm xử lý nước thải ở SEAB đã được đưa vào vận hành 4 năm với kết quả rất tốt. Tiêu chuẩn nước đầu ra sau trạm xử lý phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam loại B với các thông số về nước thải trước/sau xử lý đã được ghi nhận (đơn vị tính mg/lít) như sau: lưu lượng BOD5: trước 2000; sau 50; lượng COD: trước 2857; sau 100; lượng chất rắn lơ lửng (không tan - TSS): 714/100; tổng lượng phốtpho: 60/6.




Từ giai đoạn hình thành ý tưởng sản phẩm, xây dựng kiến trúc hệ thống, thiết kế kiến trúc vi mạch đến các công đoạn kỹ thuật chuyên sâu như thiết kế vật lý (physical design), thiết kế phục vụ kiểm thử (DFT),... đều đã có sự tham gia của kỹ sư Việt Nam.
Tỷ lệ sử dụng IPv6 của Việt Nam đạt khoảng 70%, đứng thứ 7 thế giới và thứ 2 ASEAN, cao gấp 1,6 lần mức trung bình thế giới, với khoảng 95 triệu thuê bao Internet băng rộng hoạt động trên IPv6...
Trong bối cảnh khan hiếm chip nhớ đẩy chi phí sản xuất lên cao, thế hệ iPhone tiếp theo của Apple cùng nhiều sản phẩm khác như iPad và MacBook có thể sẽ có giá bán cao hơn...
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc Đà Nẵng ban hành nghị quyết về thực hiện thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới trên địa bàn thành phố, nhằm tạo ra một môi trường thử nghiệm và đánh giá các sản phẩm, mô hình công nghệ mới trước khi đưa vào ứng dụng rộng rãi là vô cùng cần thiết…
Suốt 35 năm đồng hành cùng dòng chảy kinh tế đất nước và các doanh nghiệp, sự tin cậy từ những dòng dữ liệu xác thực đã định hình nên vị thế vững chắc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mà thông tin không còn khoảng cách và công nghệ đang tái định hình xã hội, dòng chảy tri thức ấy không thể là những con số đứng yên...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.