
Tuy giảm hơn 12% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của cả nước đã đem về gần 11 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 10 ước đạt 2,39 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành 10 tháng đầu năm 2013 lên 22,73 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 10,94 tỷ USD, giảm 12,3% so với cùng kỳ năm 2012; xuất khẩu thuỷ sản đạt 5,37 tỷ USD, tăng 6%; xuất khẩu hàng lâm sản chính ước đạt 4,57 tỷ USD, tăng 14,8%.
Kim ngạch nhập khẩu của ngành nông nghiệp trong 10 tháng ước đạt 15,25 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2012.
Như vậy, trong 10 tháng, mức xuất siêu của ngành nông nghiệp là 7,48 tỷ USD.
Một số mặt hàng nông sản chính tiếp tục chứng kiến sự suy giảm về giá, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. Cụ thể, khối lượng
gạo
xuất khẩu tháng 10 ước đạt 526 nghìn tấn, với giá trị 234 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm 2013 ước đạt 5,85 triệu tấn, và 2,57 tỷ USD, giảm 15,2% về khối lượng và giảm 18% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.
Giá gạo xuất khẩu tiếp tục giảm, giá trung bình 9 tháng đầu năm 2013 đạt 439,32 USD/tấn, giảm 13,25 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2012.
Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Khối lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này trong 9 tháng đầu năm tăng trưởng mạnh, đạt trên 1,76 triệu tấn với giá trị đạt 732,28 triệu USD, chiếm 31,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. So với cùng kỳ năm ngoái, khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc tăng lần lượt là 2,9% và 0,3%.
Đối với mặt hàng
cà phê
, khối lượng xuất khẩu cà phê tháng 10 ước đạt 58 nghìn tấn, với giá trị đạt 119 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 10 tháng đầu năm ước đạt 1,09 triệu tấn và 2,33 tỷ USD, giảm 24,6% về khối lượng và giảm 24,4% về giá trị so cùng kỳ năm 2012.
Tuy nhiên, một điểm đáng mừng là giá xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2013 đạt 2.145,52 USD/tấn, tăng khoảng 0,83% so với cùng kỳ năm 2012.
Mặt hàng
cao su
đạt khối lượng xuất khẩu tháng 10 là 105 nghìn tấn với giá trị 234 triệu USD. Với ước tính này 10 tháng đầu năm 2013 xuất khẩu cao su đạt 832 nghìn tấn với giá trị đạt trên 1,96 tỷ USD, tăng 2% về khối lượng nhưng giảm 15,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.
Giống như mặt hàng gạo, giá cao su xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2013 đạt 2.371,41 USD/tấn, giảm 16,7% so với mức giá 2.847,46 USD/tấn của năm 2012.
Khối lượng
chè
xuất khẩu tháng 10 ước đạt 13 nghìn tấn với giá trị đạt gần 24 triệu USD, đưa tổng lượng chè xuất khẩu 10 tháng đầu năm ước đạt 116 nghìn tấn với giá trị đạt 187 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2012 đã giảm 5,7% về khổi lượng và tăng 0,1% về giá trị do giá xuất khẩu tăng.
Giá chè xuất khẩu trung bình 9 tháng đầu năm 2013 đạt 1.598,84 USD/tấn, tăng 5,41% so với mức giá trung bình 1.516,73 USD/tấn của năm 2012.
Về
hạt điều
, khối lượng xuất khẩu tháng 10 ước đạt 23 nghìn tấn với giá trị 137 triệu USD, đưa tổng lượng xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2013 đạt mức 212 nghìn tấn với giá trị 1,34 tỷ USD, tăng 15,5% về lượng và tăng 8,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.
Giá xuất khẩu trung bình của mặt hàng điều vẫn tiếp tục giảm trong năm 2013. Giá xuất khẩu trung bình 9 tháng đầu năm đạt 6.346,46 USD/tấn, giảm 422,75 USD/tấn, tương đương mức giảm khoảng 6,24% so với mức giá trung bình cùng kỳ năm 2012 là6.769,21 USD/tấn.
Giống như hạt điều,
hạt tiêu
là một mặt hàng nông sản nữa chứng kiến sự gia tăng cả về lượng và giá trị xuất khẩu, nhưng giá xuất khẩu cũng giảm. Trong đó, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 10 ước đạt 10 nghìn tấn, với giá trị đạt 69 triệu USD, đưa tổng khối lượng tiêu xuất khẩu 10 tháng lên 123 nghìn tấn với giá trị 817 triệu USD, tăng 19,7% về lượng và 17,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.
Giá xuất khẩu trung bình tiêu 9 tháng đầu năm 2013 đạt 6.626,63 USD/tấn, giảm 202,57 USD/tấn (khoảng 2,97%) so với cùng kỳ năm 2012.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.