
Trong 8 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của cả nước giảm tới gần 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Gạo và cà phê là những mặt hàng chứng kiến sự sụt giảm mạnh nhất cả về khối lượng lẫn giá trị xuất khẩu, trong khi chè là mặt hàng duy nhất có giá xuất khẩu tăng.
Theo báo cáo mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 8 ước đạt 2,39 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành 8 tháng đầu năm 2013 lên 17,98 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 8,99 tỷ USD, giảm 11,7%.
Giá trị nhập khẩu nông lâm thủy sản 8 tháng đầu năm 2013 ước đạt 12,09 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2012. Như vậy, mức xuất siêu của ngành nông nghiệp trong 8 tháng là 5,89 tỷ USD.
Nằm trong số những mặt hàng nông sản chính có mức xuất khẩu giảm mạnh nhất, gạo có khối lượng xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2013 ước đạt 4,69 triệu tấn, trị giá 2,05 tỷ USD, giảm 15,7% về khối lượng và giảm 18,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.Trong đó, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8 ước đạt 463 nghìn tấn, với giá trị 202 triệu USD.
Giá gạo xuất khẩu tiếp tục giảm, giá bình quân 7 tháng đầu năm chỉ là 438,49 USD/tấn, giảm 3,2 % so với cùng kỳ năm 2012. Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Khối lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này trong 7 tháng đầu năm tăng trưởng mạnh, đạt trên 1,47 triệu tấn với giá trị đạt 609,13 triệu USD, chiếm 32,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.
So với cùng kỳ năm ngoái, khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc tăng lần lượt là 9,6% và 6,8%.
Đối với mặt hàng cà phê, khối lượng xuất khẩu trong tháng 8 năm 2013 ước đạt 86 nghìn tấn, với giá trị đạt 183 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm ước đạt 974 nghìn tấn và 2,09 tỷ USD, giảm 23,2% về khối lượng và giảm 22,5% về giá trị so cùng kỳ năm 2012.
So với gạo, xuất khẩu cà phê có một điểm sáng là giá cà phê xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm đạt 2.142 USD/tấn, tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cao su cũng suy giảm cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm, nhưng tốc độ giảm chậm hơn so với gạo và cà phê. Ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 8 đạt 131 nghìn tấn với giá trị 286 triệu USD. Với ước tính này, 8 tháng đầu năm 2013 xuất khẩu cao su đạt 638 nghìn tấn với giá trị đạt trên 1,52 tỷ USD, tăng 4,6% về khối lượng và giảm 14,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.
Tuy nhiên, giống như gạo và cà phê, giá cao su xuất khẩu giảm mạnh. Giá cao su xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm đạt 2.387 USD/tấn, giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái.
Xuất khẩu chè cũng giảm về khối lượng, nhưng tăng về giá trị do giá tăng. Khối lượng chè xuất khẩu tháng 8 ước đạt 14 nghìn tấn với giá trị đạt gần 23 triệu USD, đưa tổng lượng chè xuất khẩu 8 tháng đầu năm ước đạt 88 nghìn tấn với giá trị đạt 140 triệu USD.
So với cùng kỳ năm 2012, xuất khẩu chè đã giảm 4% về khổi lượng, tuy nhiên lại tăng 0,7% về giá trị. Giá xuất khẩu chè bình quân 7 tháng đầu năm đạt 1.584 USD/tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Hạt điều và hạt tiêu được coi là hai “điểm sáng” của xuất khẩu nông sản thời gian qua do khối lượng và giá trị xuất khẩu cùng tăng. Mặc dù vậy, giá xuất khẩu của hai mặt hàng này vẫn suy giảm.
Đối với hạt điều, khối lượng xuất khẩu tháng 8 ước đạt 28 nghìn tấn với giá trị 192 triệu USD, đưa tổng lượng xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2013 đạt mức 168 nghìn tấn với giá trị 1,07 tỷ USD, tăng 18,9% về lượng và tăng 10,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012.
Giá xuất khẩu trung bình 7 tháng đầu năm đạt 6.260 USD/tấn, giảm 8,1% so với mức giá 6.809 USD/tấn cùng kỳ năm ngoái.
Về hạt tiêu, khối lượng xuất khẩu tháng 8 ước đạt 9 nghìn tấn, với giá trị đạt 65 triệu USD, đưa tổng khối lượng tiêu xuất khẩu 8 tháng lên 103 nghìn tấn với giá trị 677 triệu USD, tăng 20,4% về lượng và tăng 16,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm đạt 6.566 USD/tấn, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2012.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.