
Điều đáng nói là trong năm 2018, xuất khẩu tôm chỉ tăng trưởng trong tháng 1 và tháng 3, còn lại các tháng khác đều giảm. Xuất khẩu tôm sang 4 thị trường chính cũng giảm do nhu cầu thế giới.
Không được như kỳ vọng
Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2018 đã không đạt được chỉ tiêu đề ra khi giảm 7,8% so với năm 2017.
Nhu cầu tiêu thụ tôm ở các thị trường lớn như Mỹ, Canada giảm do có bão tuyết, tồn kho ở Nhật Bản, Hàn Quốc và EU cũng ở mức cao. Giá tôm trong nước trong quý 2/2018 có lúc giảm 20-30% cũng ảnh hưởng tới nguồn cung và nhu cầu thị trường và giá trị xuất khẩu.
Bên cạnh đó, cuối năm 2018, giá tôm thế giới giảm xuống mức thấp nhất. Nguồn cung từ các nước sản xuất tôm như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia tăng, tôm tồn kho tại Mỹ cao, nên tôm Việt Nam không thể xuất mạnh sang thị trường này.
Ngoài ra, lượng tồn kho của Ấn Độ, Ecuador và Indonesia cũng tăng đáng kể vì Trung Quốc siết chặt vấn đề tôm xuất khẩu đường tiểu ngạch qua biên giới.
Mặt khác, trong năm 2018 xuất khẩu tôm của Việt Nam sang 4 thị trường chính đều giảm trong đó giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh nhất 28%, Nhật Bản giảm 9,2%. Xuất khẩu tôm sang sang EU và Mỹ cũng giảm lần lượt 2,8% và 3,3%. Chỉ riêng xuất khẩu sang Hàn Quốc và Canada tăng nhẹ, lần lượt 1% và 3,5% so với năm 2017.
EU vẫn là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm 23,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam đi các thị trường.
Mục tiêu 4 tỷ USD và hy vọng từ các Hiệp định thương mại
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực năm 2019. Theo đó, VASEP cho rằng, đây sẽ là cơ sở để ngành tôm Việt Nam nỗ lực tạo đột phá xuất khẩu mạnh vào 28 nước châu Âu để tận dụng lợi thế thuế quan khi EVFTA có hiệu lực.
Bên cạnh đó, trong năm 2019, Mỹ cũng được xác định là thị trường tăng trưởng chủ chốt của tôm Việt Nam. Ngành tôm đã lên kế hoạch giảm thiểu ảnh hưởng của thuế chống bán phá giá cũng như sức ép giá thấp từ Ấn Độ bằng cách tăng dần xuất khẩu các mặt hàng giá trị gia tăng không bị áp thuế chống bán phá giá vào thị trường Mỹ.
Song song với đó, Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực cũng góp phần xóa bỏ nhiều dòng thuế liên quan đến thủy sản, tạo đà cho xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Cụ thể, Australia sẽ giảm thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực với tất cả sản phẩm thủy sản. Canada cũng giảm thuế thủy sản về 0%. Chile giảm thuế thủy sản ở mức từ 6% về 0%...
Từ những thuận lợi đó, ngành tôm đã đặt mục tiêu sẽ xuất khẩu trên 4 tỷ USD trong năm 2019 và tạo đà tăng trưởng tốt.
Để làm được điều đó, VASEP khuyến nghị các doanh nghiệp thủy sản cần nắm vững cam kết của Việt Nam, không chỉ lĩnh vực trực tiếp liên quan đến mình. Tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, chú trọng liên kết chuỗi để nâng cao năng suất, chất lượng, kiểm soát tốt an toàn vệ sinh thực phẩm.
Cùng với đó, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu, nắm bắt thông tin quy định và rào cản thị trường để kịp thời ứng phó và đáp ứng.
Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại tại thị trường các nước tham gia FTA, tăng cường truyền thông quảng bá sản phẩm thủy sản Việt Nam.
Hiểu và áp dụng linh hoạt và trung thực quy tắc xuất xứ của các hiệp định FTA, tìm kiếm và phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, tại các đối tác FTA. Tận dụng tối đa ưu đãi về thuế quan (hiện nay tỷ lệ tận dụng thấp).
Đặc biệt chú trọng thực hiện và đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn về lao động và môi trường, các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.