Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 6/2024 (từ ngày 01/6 đến ngày 15/6/2024) đạt 31,13 tỷ USD, giảm 4,9% (tương ứng giảm 1,61 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 5/2024.
Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 6/2024 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/6/2024 đạt 336,48 tỷ USD, tăng 16,2%, tương ứng tăng 46,81 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 227,06 tỷ USD, tăng 13,7% (tương ứng tăng 27,42 tỷ USD).
Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 6/2024 đạt 15,73 tỷ USD, giảm 10,4% (tương ứng giảm 1,83 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 5/2024.
Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 6/2024 giảm so với kỳ 2 tháng 5/2024 ở một số nhóm hàng sau: điện thoại các loại và linh kiện giảm 449 triệu USD, tương ứng giảm 18,1%; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác giảm 297 triệu USD, tương ứng giảm 12,7%; sắt thép các loại giảm 239 triệu USD, tương ứng giảm 45,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 144 triệu USD, tương ứng giảm 21,2%...
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2024, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 172,78 tỷ USD, tăng 15,2% tương ứng tăng 22,78 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, một số nhóm hàng tăng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 6,97 tỷ USD, tương ứng tăng 30,4%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 2,94 tỷ USD, tương ứng tăng 16,3%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,51 tỷ USD, tương ứng tăng 11,4%; máy ảnh máy quay phim và linh kiện tăng 1,35 tỷ USD, tương ứng tăng 55%... so với cùng kỳ năm 2023.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 6/2024 đạt 11,31 tỷ USD, giảm 10,7% tương ứng giảm 1,35 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 5/2024.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2024, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 123,45 tỷ USD, tăng 13,2%, tương ứng tăng 14,42 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 72% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Từ chiều ngược lại, trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 6/2024 đạt 15,4 tỷ USD, tăng 1,5% (tương ứng tăng 221 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 5/2024.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 6/2024 tăng so với kỳ 2 tháng 5/2024 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 560 triệu USD, tương ứng tăng 14,1%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 67 triệu USD, tương ứng tăng 37,1%.
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2024, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 163,71 tỷ USD, tăng 17,2% (tương ứng tăng 24,03 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó một số nhóm hàng tăng mạnh như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 9,55 tỷ USD, tương ứng tăng 27%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 2,64 tỷ USD, tương ứng tăng 14,8%; sắt thép các loại tăng 1,18 tỷ USD, tương ứng tăng 27,3% so với cùng kỳ năm 2023.
Số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 6/2024 đạt 9,93 tỷ USD, tăng 2,6% (tương ứng tăng 249 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 5/2024.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2024, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 103,61 tỷ USD, tăng 14,3% (tương ứng tăng 13 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023, chiếm 63,3% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Với kết quả trên, trong kỳ 1 tháng 6/2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 327 triệu USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6/2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 9,07 tỷ USD.




Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...