![[Interactive] Nghị quyết số 19-NQ/TW: Đổi mới mô hình phát triển đất nước](https://premedia.vneconomy.vn/files/uploads/2026/09/02/28369b609f724fd7a90bf30392d34806-116247.jpg?w=600&h=360&mode=crop)
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tính từ đầu năm 2016 đến hết tháng 9 đạt 253,44 tỷ USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm ngoái, tương ứng tăng gần 9,5 tỷ USD.
Như vậy, trong 9 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuất siêu khoảng 3,72 tỷ USD.
Nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm tới 64,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ đầu năm, khi đạt 163,75 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ, tương ứng tăng hơn 8,47 tỷ USD.
Về xuất khẩu, tổng kim ngạch 9 tháng của Việt Nam đạt gần 128,58 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ, tương ứng tăng gần 8,43 tỷ USD.
Thống kê cũng cho thấy, 10 loại mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đều tăng so với cùng kỳ.
Ba nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu vượt 10 tỷ USD gồm điện thoại các loại và linh kiện (đạt 25,59 tỷ USD); hàng dệt, may (17,8 tỷ USD); máy tính điện tử và linh kiện (12,9 tỷ USD). Các loại nông sản, gỗ, cà phê… tăng nhẹ.
Về nhập khẩu, tổng kim ngạch 9 tháng của cả nước đạt hơn 124,86 tỷ USD, tăng 0,9% so với cùng kỳ, tương ứng tăng hơn 1,07 tỷ USD.
Nhập khẩu máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện là nhóm hàng tăng mạnh nhất với 16% đạt 20,1 tỷ USD.
Trong khi đó, nhiều nhóm hàng hoá khác có xu hướng sụt giảm mạnh như máy móc thiết bị dụng cụ, phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện; xăng dầu; nguyên liệu dệt may. Nhập khẩu sắt thép, vải, kim loại có xu hướng tăng nhẹ.
Các đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam vẫn là Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản, ASEAN, Hàn Quốc...
Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm mặt hàng lớn nhất.
Kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm mặt hàng lớn nhất
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), lãnh đạo các nước: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Campuchia, Liên bang Nga, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh đã có điện và thư mừng gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập 1945 là văn kiện có ý nghĩa chính trị và pháp lý, là nền tảng vững chắc để dân tộc ta xây dựng, thực thi chủ quyền toàn diện, trong đó có chủ quyền kinh tế trên các lĩnh vực tài nguyên, tiền tệ, công nghệ, hướng tới một nền kinh tế tự chủ, tự cường.
Sáng 2/9, nghi lễ Thượng cờ được tổ chức trang nghiêm tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi cách đây 81 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.