
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2018 gần như không có gì thay đổi so với năm 2017, tuy nhiên, trị giá xuất khẩu của từng nhóm hàng năm qua đã có mức tăng trưởng lớn so với năm trước đó.
Đáng chú ý, có một số nhóm hàng đạt mức tăng trưởng rất cao như dệt may, điện thoại, giày dép, sắt thép, gỗ...
Cụ thể, điện thoại các loại và linh kiện vẫn là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2018. Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 49,08 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm 2017.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường đứng đầu trong nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện từ Việt Nam năm 2018 với kim ngạch đạt 9,38 tỷ USD tăng 31,1% so với năm 2017. Thị trường đứng thứ hai là Hoa Kỳ với kim ngạch đạt 5,41 tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2017.
Nhóm hàng xuất khẩu nhiều thứ hai là hàng dệt may, với trị giá 30,49 tỷ USD năm 2018, tăng 16,7% so với năm 2017.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 13,7 tỷ USD, tăng 11,6%; sang EU đạt 4,16 tỷ USD, tăng 9,9%; sang Nhật Bản đạt 3,81 tỷ USD, tăng 22,6%; sang Hàn Quốc là 3,3 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm trước.
Riêng xuất khẩu hàng dệt may sang Trung Quốc trong năm 2018 đạt 1,5 tỷ USD, tăng mạnh 39,6% so với năm trước đó, tương ứng tăng 437 triệu USD về số tuyệt đối.
Đứng vị trí thứ ba trong danh sách xuất khẩu là máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện. Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 29,32 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2017.
Các thị trường chính nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ Việt Nam trong năm 2018 là Trung Quốc với 8,36 tỷ USD, tăng 21,9%; thị trường EU với 5,47 tỷ USD, tăng 18,6%...
10 nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng về trị giá lớn nhất năm 2018Nguồn: Tổng cục Hải quan
Thứ tư là nhóm hàng nông sản, bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su.
Xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2018 đạt 17,8 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2% so với năm 2017.
Trung Quốc, EU, ASEAN, Hoa Kỳ là các thị trường chính nhập khẩu hàng nông sản từ Việt Nam trong năm 2018. Xuất khẩu hàng nông sản sang các thị trường này chiếm tỷ trọng lần lượt là 35,7%; 15,3%; 11,5% và 10,7%.
Giữ vị trí thứ năm là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác. Xuất khẩu nhóm hàng này đạt 16,55 tỷ USD, tăng 28,2% so với năm 2017.
Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong năm 2018 chủ yếu là Hoa Kỳ với 3,41 tỷ USD, tăng 40,3%; sang EU (28 nước) với 2,27 tỷ USD, tăng 21,9%; Nhật Bản với 1,84 tỷ USD tăng 7,1%; Ấn Độ với 1,7 tỷ USD, tăng gấp 5,3 lần…
Giày dép các loại là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ sáu. Xuất khẩu giầy dép các loại trong năm 2018 đạt 16,24 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước đó.
Xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2018 sang các thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 5,82 tỷ USD, tăng 13,9%; sang EU (28 nước) đạt trị giá 4,72 tỷ USD, tăng nhẹ 1,5%; sang thị trường Trung Quốc đạt trị giá 1,49 tỷ USD, tăng 30,8%; sang thị trường Nhật Bản đạt 853 triệu USD, tăng 13,5% so với cùng thời gian năm 2017…
Thứ bảy là hàng thủy sản. Trị giá xuất khẩu mặt hàng này trong năm 2018 đạt 8,8 tỷ USD, tăng 5,8% so với năm 2017.
Năm 2018, hàng thủy sản chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,63 tỷ USD, tăng 15,7%; sang EU đạt 1,47 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7%; sang Nhật Bản đạt 1,39 tỷ USD, tăng 6,4%...
Gỗ và sản phẩm gỗ xếp vị trí thứ tám. Tính đến hết tháng 12/2018, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 8,91 tỷ USD, tăng 15,7% so với năm trước đó.
Gỗ và sản phẩm gỗ được xuất khẩu chủ yếu đến các thị trường Hoa Kỳ với trị giá 3,9 tỷ USD; sang Nhật Bản với 1,15 tỷ USD; sang Trung Quốc với 1,07 tỷ USD …
Thứ chín, là phương tiện vận tải và phụ tùng với trị giá xuất khẩu đạt 7,96 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm 2017.
Nhóm hàng giữ vị trí xuất khẩu nhiều thứ mười là máy ảnh, máy quay phim và linh kiện. Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam đạt 5,24 tỷ USD, tăng 37,8% so với năm 2017.
Trong năm 2018, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Trung Quốc với 2,8 tỷ USD, tăng 34,1%; Hồng Kông 1,3 tỷ USD; tăng 25,4%; Hàn Quốc 338 triệu USD, tăng gấp 2,5 lần so với một năm trước đó.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.