Bộ Nội vụ thông tin về việc chi trả trợ cấp thôi việc
cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Theo Luật
Việc làm, thì người
lao động là người nước ngoài không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Tại Bộ
luật Lao động, đối
với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, thì người sử dụng
lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền
cho người lao động,
tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm.
Như vậy, người lao động là người
nước ngoài sẽ được người sử dụng lao động chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả
lương một khoản tiền, đương với mức người sử dụng lao động
đóng bảo hiểm xã hội bắt
buộc, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Về trợ cấp thôi việc, theo quy định
tại Bộ luật Lao động, khi hợp đồng lao động chấm dứt thì người sử dụng lao động có trách nhiệm
trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ
12 tháng trở lên.
Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa
tháng tiền lương, trừ trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu
theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm xã hội, hoặc người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính
đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp
thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng
lao động, trừ đi thời
gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, và
thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ
cấp mất việc làm.
Tiền lương để tính trợ cấp thôi
việc là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước
khi người lao động thôi việc.
Nghị định số 145/2020/NĐ-CP
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều
kiện lao động và quan hệ lao động, cũng nêu rõ, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất
việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng
lao động, trừ đi thời
gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, và thời gian làm việc đã được người sử
dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Trong đó, tổng thời gian người lao động đã làm
việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm:
Thời gian người lao động đã trực
tiếp làm việc; thời
gian thử việc; thời
gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội;
thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp,
mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an
toàn, vệ sinh lao động.
Thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ
công dân theo quy định, mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của
người lao động; thời
gian nghỉ hằng tuần, nghỉ việc hưởng nguyên lương; thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ
chức đại diện người lao động theo quy định; và thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Thời gian người lao động đã tham gia bảo
hiểm thất nghiệp, bao gồm: Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất
nghiệp và thời gian thuộc diện không phải tham gia theo quy định, nhưng
được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương một
khoản tiền, tương đương
với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp
thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12
tháng). Trường hợp có
tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 6 tháng được tính bằng nửa năm, trên 6 tháng được
tính bằng 1 năm làm việc.
Như vậy, người lao động là người
nước ngoài sẽ được chi trả trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu
trên.