Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao trong 4 tháng đầu năm nay là xăng, dầu tăng 70,3% và sắt, thép thô tăng 67% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2019 ước tính tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó ngành khai khoáng tăng 2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,8%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 7,4% và 6,6% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017.
Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,9%, đóng góp 8,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Riêng ngành khai khoáng bằng cùng kỳ năm trước (khai thác than tăng 13%, khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,1%).
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm 2019 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp như sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 77,5%…
Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; thoát nước và xử lý nước thải; sản xuất sản phẩm thuốc lá; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên; khai khoáng khác (đá, cát, sỏi)…
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 4 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước là xăng, dầu tăng 70,3%; sắt, thép thô tăng 67,1%; ti vi tăng 42,6%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 29,8%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 19,5%; ô tô tăng 18,3%; sơn hóa học tăng 15,8%; than sạch tăng 12,8%; bia tăng 12,2%; phân u rê tăng 12,1%.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là thép thanh, thép góc; khí đốt thiên nhiên dạng khí; thức ăn cho gia súc; xe máy; phân hỗn hợp NPK; dầu thô khai thác…
Xét về các tỉnh thành, trong 4 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp của 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó Thanh Hóa dẫn đầu với mức tăng 42,8%, nguyên nhân là do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018.
Một số tỉnh khác như Trà Vinh tăng 38,3% do Công ty Nhiệt điện Duyên hải tăng sản lượng điện sản xuất; Hà Tĩnh tăng 34,9% chủ yếu do đóng góp của Tập đoàn Formosa.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 23%; Quảng Ninh tăng 13,2%; Vĩnh Phúc tăng 12,9%; Hải Dương tăng 9,5%; Đồng Nai tăng 7,8%; Quảng Nam tăng 7,7%; Bình Dương tăng 7,5%; Thái Nguyên tăng 7,3%; Hà Nội tăng 6,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,6%; Cần Thơ tăng 6,2%; Đà Nẵng tăng 4,1%.
Các địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước là Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 0,4% do khai thác dầu thô tiếp tục giảm; Gia Lai giảm 5,6% do sản xuất đường giảm; Hòa Bình giảm 11,3% chủ yếu do sản lượng điện sản xuất giảm; Bắc Ninh giảm 11,9% do sản xuất sản phẩm linh kiện điện thoại giảm mạnh.



Ngày 23/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ tư.
Tạp chí Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu: Thư của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026)
Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065, xác lập một loạt mục tiêu tăng trưởng dài hạn cùng 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm đưa Đồng Nai trở thành cực tăng trưởng đa chức năng của quốc gia, lấy mô hình đô thị sân bay làm động lực trung tâm...
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Ngày 22/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.